TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2024/HS-ST Ngày 29-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Diên Hùng.
2. Ông Nguyễn Văn Lương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Nguyễn Thanh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tường - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn Đ (tên gọi khác: Không); giới tính: Nam; sinh ngày 02/9/1991 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; số định danh cá nhân/CCCD: [...]; nơi thường trú: Thôn M, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; con ông Trần Ngọc Đ1, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1956; có vợ là Đoàn Thị S, sinh năm 1992; con: có 01 người con sinh năm 2018. Gia đình có 05 anh em ruột, bị cáo là con thứ tư; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/3/2024 đến nay (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Đặng Quang S1, sinh năm 1986 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại Đặng Quang S1 (đã chết):
- + Ông Đặng Quang M, sinh năm 1954; trú tại: Thôn H - B, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (là cha đẻ của bị hại); có mặt.
- + Bà Thái Thị M1, sinh năm 1952; trú tại: Thôn H - B, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (là mẹ đẻ của bị hại); có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Chị Dương Thị L, sinh năm 1988; trú tại: Thôn H - B, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (là vợ của bị hại); có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty Cổ phần X; địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Lê D - Tổng giám đốc, địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt). Có văn bản ủy quyền cho ông Phạm Phước Hiền H – Phó Tổng giám đốc, có mặt.
- Người làm chứng:
- + Anh Trần Quang T, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn M, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- + Anh Thái Khắc T1, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- + Anh Lê Viết C, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- + Anh Lê Văn B1, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- + Anh Vũ Văn Q, sinh năm 1992; nơi cư trú: G T, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 25/12/2023, Trần Văn Đ đến phân xưởng cơ khí thuộc Công ty cổ phần X ở xã P, huyện P để làm việc, lúc này trong ca làm việc có 06 người gồm anh Trần Quang Tlàm trưởng ca, anh Lê Văn B1, anh Thái Khắc T1, anh Vũ Văn Q, anh Lê Văn C1. Theo sự phân công của anh T thì anh B1, anh Q và anh C1 sửa chữa gàu ở khu vực nghiền xi măng, anh T1 và Đ đi kiểm tra, thay bu lông ở trạm đập đá vôi phía ngoài cổng số 4 của công ty.
Đến khoảng 22 giờ 15 phút, Trần Văn Đ (không có chứng chỉ hành nghề lái xe nâng) đã tự ý lấy xe nâng đang đỗ ở phân xưởng cơ khí rồi điều khiển xe để đi lấy các dụng cụ lao động. Sau đó, Đ điều khiển xe nâng đi ra đường số F để đi ra công trường. Đoạn đường số 6 là đoạn đường không có vạch kẻ đường phân chia thành hai chiều xe chạy riêng biệt. Do trời tối, đường vắng người, xe nâng Đông điều khiển cũng không có đèn nên Đ điều khiển xe đi ở khu vực giữa đường với tốc độ khoảng 25 đến 30 km/h. Đi được một đoạn thì Đ phát hiện thấy phía trước cách mình khoảng 80 m đến 100 m có xe mô tô do anh Đặng Quang S1 điều khiển theo hướng ngược lại. Đông thấy xe mô tô này có đèn nên Đ nghĩ rằng người điều khiển xe mô tô sẽ thấy được xe nâng do mình điều khiển để tránh nên Đ đã không giảm tốc độ và không điều khiển xe nâng đi về phía phải theo chiều xe chạy của mình, khiến phần thân xe nâng của mình va chạm vào phần tay cầm bên trái xe mô tô do anh S1 điều khiển.
Hậu quả: anh Đặng Quang S1 bị ngã xe xuống đường, chấn thương sọ não nặng, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện T2 sau đó thì tử vong. Xe mô tô biển kiểm soát 75H1-152.52 hư hỏng nhẹ.
Kết quả khám nghiệm hiện trường của vụ tai nạn xác định:
Nơi xảy ra tai nạn tại đường số F, chạy dọc theo kho đá vôi trong khuôn viên của Công ty cổ phần X địa chỉ thôn C, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đây là đoạn đường thẳng, phẳng mặt đường bằng bê tông rộng 5,05 m, trên bề mặt đường không có vạch kẻ đường, sát hai bên mép đường có hệ thống các khối bê tông có kích thước dài 1 m, rộng 0,2 m, cao 0,3 m nằm dọc theo mép đường để giới hạn mặt đường.
Tiến hành khám nghiệm hiện trường theo hướng cổng số 4 đi hướng cổng số 1, lấy mép ngoài của tường kho đá vôi ở hướng cổng số 4 làm điểm mốc và mép đường phải làm mép đường chuẩn.
Cách điểm mốc 15m về hướng cổng số 1 46,4m là điểm đầu của đám cà xước mặt đường đứt quãng dài 4,7 m, có điểm đầu rộng 0,01 m, vùng rộng nhất của đám cà xước là 1 m, điểm của đám dấu vết kết thúc ngay tại mép đường chuẩn. Đám dấu vết có chiều hướng cổng số 4 đến cổng số 1 và chếch sang phải (vị trí số 1).
Trên khối bê tông nằm dọc sát mép đường chuẩn phát hiện đám dấu vết vỡ bê tông ở bề mặt trước (cổng số 4) trên diện rộng 0,14 m tính từ mép đường chuẩn sang phải và cao 0,3 m, vết cà xước bề mặt hướng ra đường của khối bê tông bị đứt quãng dài 0,75 m, điểm cuối của dấu vết cà xước cao cách mặt đường 0,15 m. Vị trí điểm đầu của khối bê tông cách điểm đầu của vị trí số 1 về hướng cổng số 1 là 4,05 m (vị trí số 2).
Nằm ngang với vị trí điểm đầu của vị trí số 2 là điểm đầu của đám mảnh vỡ hỗn hợp gồm: nhựa màu đen, nhựa màu trắng, khối nhựa màu đen (dạng chắn bùn sau của xe mô tô) có gắn biển kiểm soát nền trắng chữ và số màu đen 75H1-152.52. Ủng (bốt) màu đen, nhựa kính chiếu hậu xe mô tô trên diện dài 3,7 m rộng 1,7 m. Điểm ngoài cùng của đám mãnh vỡ nằm trên mép đường chuẩn (vị trí số 3).
Cách điểm đầu vị trí số (2) 0,5 m về hướng cổng số 1 và cách mép đường chuẩn 1,4 m là tâm của đám máu có diện (0,4 x 0,4) m (vị trí số 4).
Cách điểm đầu vị trí số (2) 1,9 m về hướng cổng số 1 và cách mép đường chuẩn 1,05 m phát hiện điểm đầu của đám dấu vết cà xước mặt đường đứt quảng dài 2,7 m điểm đầu rộng 0,01m, vùng rộng nhất 0,7 m có chiều hướng cổng số 4 đến cổng số 1 và chếch từ mép đường chuẩn ra giữa đường, điểm cuối của đám dấu vết kết thúc tại đầu mút tay phanh trước bên phải của xe mô tô nhãn hiệu Exiter RC màu trắng - đen và cách mép đường chuẩn 2,3 m (vị trí số 5).
Sau tai nạn xe mô tô nhãn hiệu Exiter RC màu trắng - đen bị gãy biển kiểm soát (gãy phần nhựa cố định biển kiểm soát) ngã nghiêng sang phải, đầu xe hướng mép đường bên trái và hơi chếch về hướng cổng số 4, đuôi xe hướng ngược lại trục trước của xe mô tô cách điểm đầu vị trí số 5 về hướng cổng số 1 là 1,45 m và cách mép đường chuẩn 2,5 m, trục sau cách điểm đầu vị trí số 5 về cổng số 1 là 2,2 m và cách mép đường chuẩn 1,4 m (vị trí số 6).
Kết quả khám nghiệm các phương tiện liên quan đến tai nạn như sau:
- Xe nâng không có biển kiểm soát: Bề mặt của la răng bánh trước bên trái bị xây xước bong tróc bụi bẩn mà trắng và bám dính chất màu đen diện dài 0,03 m, rộng 0,01 m có chiều hướng từ trong ra ngoài, điểm gần nhất của dấu vết cách điểm nối của la răng theo hướng ngược chiều tiến của bánh 0,07 m. Bề mặt của la răng bánh trước bên trái có vết bong tróc chất bụi bẩn màu trắng diện (0,02 x 0,02) m, điểm gần nhất cách dấu vết cách điểm nối của la răng theo hướng ngược chiều tiến của bánh 0,2 m. Thân xe bên trái bị cà xước bong tróc sơn màu vàng dài 0,055 m rộng 0,005 m có chiều hướng từ trước về sau, điểm đầu của dấu vết cách trục trước bên trái về sau 0,7 m và cách nền 0,0235 m điểm cuối dấu vết cách nền 0,245 m. Thân xe bên trái có vết chà xước bong tróc bụi bẩn bám dính dài 0,43 m, rộng 0,03 m có chiều hướng từ trước về sau, điểm đầu dấu vết cách trục trước bên trái về sau 0,88 m, vị trí thấp nhất của điểm đầu và điểm cuối dấu vết cách nền lần lượt là 0,215 m và 0,245 m. Thân xe bên trái có vết chà xước bong tróc màu vàng dài 0,11 m rộng 0,005 m có chiều hướng từ trước về sau, điểm đầu dấu vết cách trục trước bên trái về sau 1,13 m và cách nền 0,27 m, điểm cuối dấu vết cách nền 0,26 m. Thân xe bên trái có đám dấu vết chà xước bám dính chất màu trắng, đỏ và bong tróc sơn màu vàng trên diện dài (0,82 x 0,43) m, điểm đầu dấu vết cách trục trước về sau 0,84 m, điểm thấp nhất cách nền 0,375 m dấu vết có chiều từ trước ra sau. Thân xe bên trái ở khung kim loại mái che có vết cà xước kim loại diện dài (0,04 x 0,01) m có chiều trừ trước về sau, điểm đầu dấu vết cách trục trước bên trái về sau 1,25 m, điểm thấp nhất cách nền 0,96 m. Thân xe bên trái có vết bong tróc sơn diện (0,01 x 0,01) m, vị trí dấu vết cách trục sau bên trái tới trước 0,2 m và cách nên 0,96 m. Mặt ngoài của bánh xe và la răng bánh sau bên trái có vết chà xước cao su và kim loại dài 0,057 m, rộng 0,02 m có chiều từ ngoài vào trong, điểm đầu cách bề mặt lăn vào trong 0,05 m, điểm gần nhất của dấu vết cách điểm đầu dòng chữ “DUNLOP” ngược chiều tiến của bánh xe 0,045 m. Mặt ngoài và la răng của bánh sau bên trái có vết xây xước và bám dính chất màu đen diện (0,42 x 0,1) m có chiều từ trong ra và cùng chiều tiến của bánh xe điểm gần nhất của dấu vết cách điểm cuối của dòng chữ “2021” theo hướng ngược chiều tiến 0,02 m, điểm ngoài cùng cách bề mặt lăn của lốp vào trong 0,02 m. Phương tiện không có đèn chiếu sáng.
- Xe mô tô biển kiểm soát 75H1-152.52: Phần trục trước bên trái ở vị trí cố định vào phuộc bị cong vênh về sau so với vị trí bình thường 0,04 m, đai ốc vít cố định trục vào phuộc bị bung rời, mặt trước bộ phận cố định trục vào phuộc bị chà xước diện (0,03 x 0,04) m và khuyết kim loại diện (0,01 x 0,005) m chiều hướng từ trước về sau, thấp nhất cách nền 0,26 m. Đầu mút chắn bùn trước bị cà xước diện (0,13 x 0,1) m, chiều hướng từ trước về sau. Bề mặt bên trái của chắn bùn trước bị chà xước bám dính chất màu đen vàng diện (0,1 x 0,1) m có chiều hướng từ trước về sau, điểm gần nhất cách đầu mút chắn bùn về sau 0,21 m, điểm thấp nhất cách nền 0,43m. Mặt ngoài bên trái của cụm: Yếm xe, mặt nạ, đèn xin đường bị cà xước bám dính chất màu vàng diện (0,43 x 0,44) m, chiều hướng từ trước về sau, điểm gần nhất cách đầu mút mặt nạ xe về sau 0,2 m, điểm thấp nhất cách nền 0,4 m. Đầu mút tay côn (bên trái) bị xây xước diện (0,01 x 0,01) m có bám dính chất màu vàng. Đầu mút tay nắm trước bên trái bị xây xước kim loại diện tròn đường kính 0,03 m, rộng nhất 0,015 m. Vành xe bên trái của bánh trước bị cà xước kim loại có chiều ngược chiều tiến của bánh xe gồm hai vết cách nhau 0,12 m vết gần chân van dài 0,05 m, rộng 0,005 m và hẹp dần xuống 0,001 m, điểm cuối cách chân van 0,07 m, vết thứ hai dài 0,025 m, rộng 0,01 m. Vành xe bên trái của bánh trước có vết mài mòn kim loại dài 0,04 m, rộng 0,01 m điểm gần nhất cách chân van ngược chiều tiến của bánh xe 0,41m. bề mặt bên trái lốp xe bị chà xước diện dài (0,25 x 0,02) m chiều từ trong ra ngoài, điểm gần nhất của dấu vết cách điểm cuối dòng chữ “DIAMOD” ngược chiều tiến của lốp 0,05 m. Chân số bị đẩy cong về sau và hướng lên trên gần vuông góc với vị trí bình thường, đầu mút chân số có bám dính chất màu trắng. Gác chân trái phía trước bị đẩy cong về sau. Nhựa đen phía trước lóc máy bên trái bị cà xước mài mòn nhựa và bám dính chất màu đen diện (0,05 x 0,03) m, phần nhựa bị mài mòn có diện (0,015 x 0,015) m, chiều hướng từ trước về sau, vị trí cách nền 0,23m, cách trục trước 0,44 m. Mặt trước bên phải của mặt nạ bị cà xước và nứt vỡ nhựa có bám dính bụi đất đá và rêu trên diện (0,3 x 0,15) m. Nhựa phía trước đầu xe và cụm đèn chiếu sáng bị vỡ rời khỏi xe, phần bên trong có bám dính bụi đất đá màu trắng, đầu xe bị đẩy cong về sau. Đầu mút tay phanh bên phải bị xước diện tròn đường kính 0,01 m. Đầu mút tay nắm trước bên phải bị chà xước diện tròn đường kính 0,03 m. Mặt ngoài bên phải của cụm chân phanh gác chân trước, gác chân sau ống xả bị chà xước kim loại diện dài (0,9 x 0,18) m. Mặt ngoài của tay nắm sau bên phải bị chà xước kim loại diện (0,02 x 0,01) m. điểm gần nhất cách điểm mút tay nắm về sau 0,09 m. Nhựa chắn bùn có gắn biển kiểm soát bị gãy rời khỏi xe.
Tại Bản kết luận số 09/KL-KTHS ngày 15/01/2024, Phòng K Công an tỉnh T kết luận như sau: Giữa xe nâng máy dầu, trọng tải 03 tấn và xe mô tô biển kiểm soát 75H1 - 152.52 có sự va chạm tại các chi tiết phía bên trái của xe nâng máy dầu, trọng tải 03 tấn gồm: mép ngoài bên trái vành la răng bánh trước, mặt ngoài thành xe, mặt trên thanh đứng phía sau khung kim loại gắn mái che, má trái và mép ngoài bên trái vành la răng bánh sau với các chi tiết phía bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 75H1-152.52 gồm: mặt trước đầu mút bàn đạp chân số, mặt trước bàn để chân phía trước, mặt ngoài yếm, mặt ngoài ốp nhựa đèn chuyển hướng, mặt ngoài bên trái mặt nạ, mặt ngoài bên trái chắn bùn bánh trước, mặt trước đầu mút tay côn, mặt trước ốp kim loại đầu mút tay cầm lái, má trái và mép ngoài bên trái vành bánh trước, mặt trước và mặt ngoài giảm xóc trước tại phần cố định với trục trước, phù hợp cơ chế và chạm theo chiều hướng từ trước ra sau xe nâng và từ trước ra sau xe mô tô.
Tại Công văn số 1007/SGTVT-CV ngày 14/5/2024 của Sở Giao thông vận tải tỉnh T xác định: đường nội bộ (bao gồm đường số F) phía trong Công ty cổ phần X là đường chuyên dùng phục vụ giao thông đi lại cho của Nhà máy X1.
Tại Công văn số 1338/SGTVT-QLVTPT ngày 20/6/2024 của Sở Giao thông vận tải tỉnh T xác định: xe nâng hàng trọng tải 03 tấn, hiệu Komatsu model FD30T-117, số seri: M229-338891, số động cơ: 4D94LE-72697, số khung M229-33889 của Công ty cổ phần X là xe máy chuyên dùng.
Tại Bản kết giám định tử thi số 293-23/KLGĐTT ngày 10/01/2024 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh T, đối với anh Đặng Quang S1 kết luận như sau:
1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám nghiệm.
+ Chấn thương sọ não hở nặng: Rách toát da đầu, xương sọ trán trái vỡ nhiều mảnh thông vào khoang sọ não, quan sát thấy tổ chức não.
+ Các tổn thương khác: Rách da cẳng tay trái, bầm tím xây xát rải rác mu bàn tay phải; rách da mài mòn mặt trước cẳng chân hai bên và mu bàn chân trái.
- Kết quả khác: Không.
2. Kết luận nguyên nhân chết: Do chấn thương sọ não hở nặng do tai nạn giao thông không hồi phục.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tạm giữ:
- - 01 (một) xe nâng màu vàng, hiệu Komatsu Model FD30T-117, số seri: M229-338891, số động cơ: 4D94LE-72697, số khung M229-33889 của Công ty cổ phần X;
- - 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 75H1 - 152.52.
Ngày 26/04/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại xe mô tô biển kiểm soát 75H1 - 152.52 cho chị Dương Thị L, trả lại xe 01 xe nâng cho Công ty cổ phần X.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Trần Văn Đ đã thỏa thuận và tự nguyện bồi thường cho gia đình anh Đặng Quang S1 số tiền 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng); chị Dương Thị L (là vợ anh S1 được gia đình anh S1 ủy quyền) đã nhận tiền đầy đủ, không yêu cầu gì thêm.
Tại Cáo trạng số: 39/CT-VKSPĐ ngày 03/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định truy tố Trần Văn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Trần Văn Đ. Đề nghị xử phạt Trần Văn Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm.
Buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo luật định.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Trình bày lời bào chữa, bị cáo không có ý kiến về hành vi và tội danh, chỉ đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
Trình bày ý kiến tại phiên tòa, ông Đặng Quang M, chị Dương Thị L và người đại diện hợp pháp của Công ty cổ phần X không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Lời sau cùng của bị cáo: “Bị cáo nhận thức được hậu quả đã gây ra mất mát lớn cho gia đình bị hại. Bị cáo xin lỗi và mong gia đình bị hại cảm thông. Mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng cho bị cáo”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Thái Thị M1 vắng mặt, nhưng có đơn xin vắng mặt. Xét việc vắng mặt không trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.
[2] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[3] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp lời khai người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, kết quả thực nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 25/12/2023, Trần Văn Đ không có chứng chỉ hành nghề lái xe nâng nhưng vẫn điều khiển xe nâng không có biển kiểm soát lưu thông trên đường số F của Công ty cổ phần X thuộc địa phận xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đoạn đường số 6 là đoạn đường chuyên dụng, không có vạch kẻ đường phân chia thành hai chiều xe chạy riêng biệt. Đ điều khiển xe đi ở khu vực giữa đường, phát hiện thấy phía trước cách mình khoảng 80 m đến 100 m có xe mô tô do anh Đặng Quang S1 chạy theo hướng ngược lại. Do nghĩ rằng anh S1 thấy mình nên Đ đã không giảm tốc độ và điều khiển xe nâng đi về phía phải theo chiều xe chạy của mình khiến phần thân xe nâng của mình va chạm vào đầu tay cầm bên trái xe môtô do anh S1 điều khiển. Hậu quả là anh Đặng Quang S1 bị ngã xe xuống đường, chấn thương sọ não nặng chết ngay sau đó.
Hành vi của Trần Văn Đ không có chứng chỉ hành nghề lái xe nâng nhưng vẫn điều khiển xe nâng tham gia giao thông lưu thông, điều khiển xe vào ban đêm nhưng không có đèn chiếu sáng, phát hiện có xe mô tô 75H1-152.52 chạy theo hướng ngược lại đã không giảm tốc độ và điều khiển xe nâng đi về bên phải theo chiều xe chạy của mình vi phạm vào khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 17 và điểm c khoản 1 Điều 57 Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 của Quốc hội để xảy ra tai nạn hậu quả làm chết một người. Tại thời điểm thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Như vậy, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết “Không có giấy phép lái xe theo quy định” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về lỗi xảy ra tai nạn: Vụ tai nạn giao thông nói trên xuất phát từ lỗi của hai phía, trong đó: Trần Văn Đ điều khiển xe nâng nhưng không có chứng chỉ hành nghề lái xe nâng, điều khiển xe vào ban đêm nhưng không có đèn chiếu sáng, phát hiện xe đi ngược chiều nhưng không giảm tốc độ và cho xe đi về bên phải. Hành vi của Trần Văn Đ đã vi phạm khoản 9 Điều 8; khoản 1 Điều 17, điểm c khoản 1 Điều 57 Luật Giao thông đường bộ gây tai nạn làm 01 người chết.
Lỗi của Đặng Quang S1 điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường không có vạch kẻ đường phân chia đường thành 02 chiều xe chạy riêng biệt, phát hiện xe đi ngược chiều nhưng không giảm tốc độ và cho xe đi về bên phải theo chiều xe chạy của mình. Điều khiển xe đi vào ban đêm tầm nhìn hạn chế nhưng không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn. Hành vi của S1 đã vi phạm khoản 1 Điều 17 Luật Giao thông đường bộ; khoản 2 và khoản 8, Điều 5 Thông tư 31/2019 ngày 29/8/2019 quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới.
[5] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng khi tham gia giao thông đường bộ đã chủ quan, xem thường quy tắc an toàn, có lỗi dẫn đến tai nạn gây hậu quả nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự, an toàn giao thông, nên cần phải xử phạt
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng.
Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trong vụ án này cũng có một phần lỗi của người bị hại khi tham gia giao thông; Người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại, đề nghị giảm nhẹ hình phạt; Bị cáo có mẹ ruột được trao tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Kỷ niệm chương Chiến sĩ cách mạng; cha ruột được tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc nên được áp dụng là các tình tiết giảm nhẹ theo các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét bị cáo có nhân thân tốt; có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không phạm vào tình tiết tăng nặng; có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, để không bắt phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật và cũng đủ răng đe giáo dục. Như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, cần được chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại các vật chứng cho chủ sở hữu hợp pháp, không ai có ý kiến gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng); Gia đình bị hại đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì thêm về dân sự.
[8] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ: 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 05 (Năm) năm. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao Trần Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Bị cáo Trần Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người đại diện hợp pháp của bị hại, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đạt |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự sơ thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Đình T và Lê Hoàng Q phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
