|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 37/2024/DS-PT Ngày: 14 - 10 - 2024 “V/v tranh chấp tài sản là quyền sử dụng đất cho thuê” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Thanh
- Các Thẩm phán: Ông Lê Vũ Tiến và Bà Trương Thị Đào Vi .
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Nhung - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phụng Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 10 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2024/TLPT-DS ngày 29 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất cho thuê”,
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 136/2023/DS-ST ngày 16 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế bị kháng nghị, kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 93/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm bổ sung số: 93A/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- - Ông Nguyễn Vĩnh T; địa chỉ: 2 L, phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Vĩnh T:
- Ông Nguyễn Thanh H; địa chỉ: 1 đường B khu phố A, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; có mặt. (Theo Văn bản uỷ quyền ngày 02/10/2024).
- - Ông Nguyễn Vĩnh T1; địa chỉ: A đường số B, khu dân cư T, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Vĩnh T1:
- Ông Nguyễn Vĩnh T; địa chỉ: 2 L, phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt (Theo Văn bản uỷ quyền ngày 23/7/2019).
- Bị đơn:
- - Bà Lương Thị C; địa chỉ: A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn bà Lương Thị C: Ông Đào Hữu M; địa chỉ: A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt. (Theo Văn bản uỷ quyền ngày 16/5/2018)
- - Ông Đào Hữu M; địa chỉ: A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- - Ông Nguyễn Hữu H1; địa chỉ: Lô A N, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Vĩnh T2; địa chỉ: Tổ dân phố E, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có đơn xin vắng mặt.
- - Ông Nguyễn Vĩnh T3; địa chỉ: A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Vĩnh T3: Ông Nguyễn Phước Bảo K; địa chỉ: A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt. (Theo Văn bản uỷ quyền ngày 23/01/2018)
- - Ông Nguyễn Thanh H; địa chỉ: 1 đường B khu phố A, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- - Bà Huỳnh Thị H2; địa chỉ: A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- - Ông Đào Hữu T4; địa chỉ: A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
- - Ông Đào Hữu C1; địa chỉ: A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
- - Ông Đào Hữu Q; địa chỉ: A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt;
- - Bà Đào Thị Ngọc H3; địa chỉ: A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- - Bà Đào Thị Quỳnh T5; địa chỉ: A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- - Bà Phạm Thị N; địa chỉ: A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- - Bà Nguyễn Thị Trà M1; địa chỉ: 2 X, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- - Bà Nguyễn Thị Ngọc A; địa chỉ: Số A (Xóm giữa), TDP C, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- - Bà Nguyễn Thị Cẩm H4; địa chỉ: D B, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- - Ông Đào Hữu M2; địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
- - Ông Đào Hữu Đ; địa chỉ: 2 L, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- - Bà Đào Thị Ngọc B; địa chỉ: H kiệt C A, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- - Ông Đào Hữu H5; địa chỉ: Tổ dân phố V, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- - Ông Đào B1; địa chỉ: B Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- - Ủy ban nhân dân phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Viết T6, chức vụ Chủ tịch UBND phường V; vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Huy Q1, chức vụ Công chức Địa chính - Xây dựng - Đô thị - Môi trường phường V (Theo Văn bản uỷ quyền ngày 23/9/2024); có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Nguyễn Vĩnh T: Luật sư Hồ Viết T7 – Luật sư thuộc Công ty L và cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T; địa chỉ: 1 Bà T, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Lương Thị C và ông Đào Hữu M: Luật sư Hoàng Kiến A1 – Luật sư thuộc Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T; địa chỉ: H T, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Vĩnh T, là nguyên đơn; ông Nguyễn Hữu H1, ông Đào Hữu M và bà Lương Thị C, là bị đơn.
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân thành phố H theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 424/QĐ-VKS-DS ngày 27/10/2023 kháng nghị Bản án sơ thẩm số 136/2023/DS-ST ngày 16/10/2023 của Toà án nhân dân thành phố Huế.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/10/2017, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa, phía nguyên đơn ông Nguyễn Vĩnh T và ông Nguyễn Vĩnh T1 trình bày:
Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M và ông Nguyễn Hữu H1 trả lại toàn bộ quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền với đất bị chiếm dụng bất hợp pháp do hết thời hạn thuê mà không trả là thửa đất số 80 và 81, tờ bản đồ số 23, diện tích đất, nhà khoảng 153,9m² tọa lạc tại địa chỉ 110 và A N, phường V, thành phố H.
Hiện nay nhà nước thu hồi một phần nhà đất nêu trên để thực hiện dự án nâng cấp, mở rộng đường L, phường V, thành phố H, cụ thể:
- - Thu hồi một phần diện tích nhà đất khoảng 60m²/123m² tại thửa đất số 80, tờ bản đồ số 23, địa chỉ A N, phường V, thành phố H, đang do bà Lương Thị C và ông Đào Hữu M sử dụng, với số tiền bồi thường 1.286.765.000 đồng.
- - Thu hồi toàn bộ nhà đất với diện tích 30,9m² tại thửa đất số 81, tờ bản đồ số 23 tại địa chỉ A N, phường V, thành phố H do ông Nguyễn Hữu H1 sử dụng, số tiền bồi thường 583.514.000 đồng.
Đề nghị Tòa án tuyên nguyên đơn có quyền nhận số tiền bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất. Hiện đã có đơn ngăn chặn việc chi trả tiền bồi thường.
Nguyên đơn cho rằng họ là những người được thừa kế chuyển tiếp quyền sử dụng đất từ cha là ông Nguyễn Bửu T8 (tức Bửu Tẩu) được hưởng di sản thừa kế của bà nội là bà Hồ Thị M3.
Di sản Bà Hồ Thị M3 để lại là quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền với đất tọa lạc tại thôn V, tổ N, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, nay là phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, số hiệu miếng đất A261 theo bản trích lục địa bộ ngày 15/10/1935, nay là thửa đất và nhà ở gắn liền với đất, trong đó có nhà, đất tại thửa đất số 80 và 81 tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại 110 và A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Sau khi bà Hồ Thị M3 qua đời, cha của các ông là ông Nguyễn Bửu T8 tiếp tục sử dụng toàn bộ đất nói trên. Trong quá trình sử dụng vào năm 1957 cha của các ông là ông Nguyễn Bửu T8 (Bửu Tẩu) có cho ông Đào Hữu Q2 (là chồng của bà C, bố của ông Đào Hữu M, ông ngoại của ông Nguyễn Hữu H1) thuê một phần nhà đất, trên đất có nhà để ở. Việc cho thuê có lập giấy cho thuê diện tích 180m², thời hạn thuê 03 năm, giá 810 đồng, trả tiền ngay lúc làm giấy. Việc cho thuê có xác nhận của Hội đồng hành chính xã P. Hết hạn thuê lần thứ nhất vào năm 1960 ông Đào Hữu Q2 xin tiếp tục thuê, nên hai bên có lập giấy cho thuê diện tích thuê là 15m x 12m (tức 180m²), thời hạn thuê 06 năm, mãn hạn thuê vào ngày 30/12/1965, giá thuê: 1.620 đồng, ông Đào Hữu Q2 đã trả tiền và ông Bửu T8 đã nhận đủ tiền cho thuê. Giấy cho thuê có xác nhận của xã P ngày 19/9/1960.
Khi sắp hết thời hạn thuê lần thứ 2, vào ngày 15/3/1965 cha của các ông có gửi giấy cho ông Đào Hữu Q2 yêu cầu trả lại đất khi hết thời gian thuê, trước ngày 01/01/1966. Do không gặp ông Q2 để giao giấy nên con ông Q2 là Đào Hữu H5 đã nhận thay giấy này để chuyển lại cho ông Q2 (ông H5 đã trực tiếp ký nhận giấy).
Khi hết thời hạn thuê, hai bên đã thỏa thuận trả lại nhà, đất cho cha các ông. Tuy nhiên, chưa tìm được chỗ ở nên ông Q2 xin gia đình cho ở thêm một thời gian khi nào tìm được chỗ ở sẽ chuyển đi, việc cho ở không lấy tiền.
Sau ngày giải phóng cha của các ông nhiều lần yêu cầu ông Q2 cùng người nhà ông Q2 chuyển đi trả lại nhà đất nhưng do khó khăn về chỗ ở nên ông Q2 vẫn tiếp tục xin ở tại nhà đất này, không trả tiền.
Sau khi cha của các ông qua đời năm 1992, vào năm 1995 ông Q2 và bà Phương T9 đã chuẩn bị cột bê tông để xây dựng, sửa chữa nhà ở, cố ý chiếm đoạt nhà đất. Các cơ quan chức năng đã lập nhiều biên bản vi phạm đối với bà Đào Thị Phương T9 (02 lần vào năm 1995) và đối với ông Đào Hữu M (01 lần vào năm 1997) đã đình chỉ xây dựng trái phép trên đất. Tuy nhiên, bà T9 cũng như ông M cố tình vi phạm, chây ỳ.
Khoảng năm 1997 ông Q2 chết tức là giao dịch giữa gia đình ông và ông Đào Hữu Q2 không còn hiệu lực thì bà C, ông M và bà T9 (sau này là ông Nguyễn Hữu H1) lập tức chiếm đoạt quyền sử dụng đất. Hiện nay đã tách nhà đất thành 2 thửa, thửa số 80 tờ bản đồ số 23, diện tích 123m² do bà C sử dụng; thửa số 81, tờ bản đồ số 23, diện tích 30,9m² do con gái ông Q2 là Đào Thị Phương T9 sử dụng.
Trong quá trình tranh chấp, Ủy ban nhân dân phường đã 02 lần tổ chức hòa giải (ngày 27/6/2015 và 25/7/2015), nhưng không thành.
Tại đơn sửa đổi nội dung khởi kiện đề ngày 26/7/2019 của nguyên đơn:
- + Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M và ông Nguyễn Hữu H1 trả lại toàn bộ quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền với đất chiếm dụng bất hợp pháp do hết thời hạn thuê mà không trả tại thửa đất số 80 và 81 tờ bản đồ số 23, diện tích khoảng 153,9m², tọa lạc tại địa chỉ 110 và A N, phường V, thành phố H.
- + Thay đổi yêu cầu: Đề nghị tuyên có quyền nhận tiền bồi thường về đất do Nhà nước thu hồi mở đường Lâm Hoằng .
- + Về khoản tiền bồi thường tài sản trên đất, đề nghị Tòa tuyên cho phía bị đơn là bà C, ông M và ông H1 được nhận.
Tại biên bản hòa giải ngày 26/8/2020 và tại phiên tòa nguyên đơn có thay đổi yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M và ông Nguyễn Hữu H1 trả lại quyền sử dụng đất tại thửa đất theo đơn khởi kiện và đề nghị tuyên nguyên đơn có quyền nhận tiền bồi thường về đất. Về tiền bồi thường tài sản trên đất không yêu cầu.
Bị đơn bà Lương Thị C và ông Đào Hữu M trình bày:
- - Về nguồn gốc nhà ở: Nhà do gia đình ông, bà xây dựng từ trước năm 1957 cho đến bây giờ, không phải nhà của nguyên đơn, nên nguyên đơn đòi lại nhà là không đúng.
- - Về nguồn gốc đất: Nguồn gốc đất của bà Hồ Thị M3 là thửa đất A261 theo trích lục địa bộ ngày 15/10/1935 do Sở địa chính tỉnh Thừa Thiên Huế, Đại Nam Trung kỳ Chính phủ cấp. Ông Bửu T8 cho ông Đào Hữu Q2 thuê từ 1/1/1957 đến 1/1/1966 (thuê 2 lần). Sau ngày 1/1/1966 không biết lý do gì mà ông Bửu T8 cho gia đình ông, bà ở từ đó cho đến hôm nay không lấy tiền thuê, khi ông Bửu T8 còn sống không có khiếu nại gì.
Sau năm 1975, chồng bà là ông Đào Hữu Q2 đăng ký thửa đất theo chỉ thị 299, thửa số 151, tờ bản đồ số 02 diện tích 166m² ông Bửu T8 không phản đối, tại sổ mục kê của phường V thửa đất số 80, tên người sử dụng là bà Lương Thị C đăng ký 122,96m², tại bản đồ 202 tên người sử dụng đất bà Lương Thị C thửa số 80 diện tích 123m², tại bản đồ Gis là thửa đất số 80 bà C đăng ký diện tích 123m².
Tại đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Nhị Đ1 ngày 18/8/1995 thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường V đã xác nhận: “Qua nội dung đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Nhị Đ1 đòi lại đất. Ủy ban nhân dân phường C thông báo số 1049 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc giải quyết khiếu nại về nhà đất liên quan đến chính sách cải tạo. Ngày 15/9/1995 Ủy ban nhân dân sẽ giải quyết khi có chủ trương mới của Nhà nước”.
Căn cứ vào chính sách của Đảng và Nhà nước sau năm 1975 thửa đất nói trên thuộc quyền quản lý của Nhà nước liên quan đến chính sách cải tạo công thương nghiệp và Nhà nước đã mặc nhiên cấp cho ông Đào Hữu Q2 và bà Lương Thị C để xây dựng nhà ở và đã cho đăng ký vào sổ địa chính của chính quyền địa phương số thửa 80, diện tích 123m² tại A N, phường V, thành phố H là đúng pháp luật. Đến nay gia đình đã ở ổn định gần 50 năm, không có tranh chấp nên gia đình không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn ông Nguyễn Hữu H1 trình bày:
- - Về nhà ở: Ủy ban nhân dân thành phố H đã công nhận quyền sở hữu nhà cho mẹ của ông là bà Đào Thị Phương T9 và đã thẩm định, chi trả tiền bồi thường cho ông và các đồng thừa kế. Ngày 29/3/2018, Ủy ban nhân dân phường V, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố H có biên bản yêu cầu tháo dỡ nhà bàn giao mặt bằng cho Nhà nước; nhà là do gia đình ông xây dựng.
- - Về nguồn gốc đất: Đất ông đang sử dụng là một phần đất do ông ngoại (là ông Đào Hữu Q2) thuê của bố nguyên đơn từ những năm 1950 của chế độ cũ. Sau ngày miền N giải phóng, mẹ ông và ông là người đứng ra kê khai nhà đất với chính quyền theo chủ trương thống nhất quản lý đất đai của Nhà nước, nộp thuế từ năm 1978 cho đến nay. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả lại nhà, đất là ông không đồng ý.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- - Ông Vĩnh T2, ông Nguyễn Vĩnh T3, ông Nguyễn Thanh H đều trình bày: Đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M và ông Nguyễn Hữu H1 trả lại toàn bộ quyền sử dụng đất và tiền bồi thường về đất như yêu cầu khởi kiện và bổ sung, thay đổi nội dung khởi kiện của nguyên đơn.
- - Ông Đào Hữu T4 trình bày: Lời khai giống lời khai của bà Lương Thị C và ông Đào Hữu M và trình bày ông ở trong nhà của bố mẹ, không có công sức gì trong việc xây dựng nhà.
- - Bà Huỳnh Thị H2 trình bày: Bà là vợ của ông Đào Hữu M, kết hôn năm 1990, từ đó đến nay ở với mẹ chồng và chồng. Trong thời gian ở từ trước cho đến nay vợ chồng và mẹ chồng đã tu sửa nhà 02 lần vào năm 1995 và 2012, về việc tu sửa thì có công lao của vợ chồng bà. Nay có đơn khởi kiện, bà đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
- - Ông Đào Hữu C1, ông Đào Hữu Q và bà Đào Thị Ngọc H3 trình bày: Bản thân được bố mẹ sinh ra và lớn lên tại địa chỉ A N, phường V, thành phố H, không có công lao xây dựng nhà đất này.
- - Chị Đào Thị Quỳnh T5 trình bày: Chị sinh ra và lớn lên tại A N, phường V, thành phố H. Đến đầu năm 2014 ra nước ngoài học tập và làm việc. Chị đã đóng góp hoàn toàn trong quá trình xây dựng và sửa chữa nhà cửa nhiều lần cho ba mẹ.
- - Chị Nguyễn Thị Cẩm H4, chị Nguyễn Thị Ngọc A và chị Nguyễn Thị Trà M1 trình bày: Nguồn gốc nhà và đất tại A N, phường V, thành phố H do bố, mẹ là ông Nguyễn Hữu T10 và bà Đào Thị Phương T9 tạo lập. Nay nguyên đơn có đơn khởi kiện thì bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Ông Đào Hữu Đ, ông Đào Hữu M2 và bà Đào Thị Ngọc B trình bày: Về nguồn gốc nhà đất của ba mẹ mua của ai thì không được rõ, chỉ biết khi sinh ra đã ở đó. Đến năm 1975 cha là Đào Hữu Q2 đăng ký thửa đất này theo Chỉ thị 299, thửa đất số 151, tờ bản đồ số 02, diện tích 166m², khi đăng ký không ai khiếu nại tranh chấp. Năm 1989 bố là Đào Hữu Q2 mất thì mẹ là người tiếp tục quản lý nhà đất này và hiện nay tại sổ mục kê của phường V, thành phố H, thửa đất này được ghi số thứ tự 80, tên chủ sử dụng đất là Lương Thị C, diện tích 122,96m², đất ở. Tại bản đồ 202, tên chủ sử dụng đất là Lương Thị C, thửa số 80, tờ bản đồ 23, diện tích 123m², đo vẽ tháng 4/1997. Đến năm 2005 tại bản đồ Gis, thửa đất số 80 đứng tên Lương Thị C, diện tích 123m², tại A N, phường V, thành phố H. Nay nguyên đơn khởi kiện đòi lại nhà đất của bố mẹ thì không đồng ý bởi vì gia đình đã ở ổn định qua bao nhiêu thời khắc lịch sử, giữ gìn tôn tạo cho đến ngày hôm nay.
- - Ông Đào Hữu H5 trình bày: Theo yêu cầu khởi kiện đòi lại tài sản liên quan đến nhà đất tại A N, phường V, thành phố H thì ông đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn - Luật sư Hồ Viết T7 có ý kiến:
- - Về thủ tục tố tụng: Việc phía nguyên đơn cung cấp Bản Nguyễn Phước Tộc Thế P và Bản dịch bia mộ của ông Ưng K1 và bà Hồ Thị Mỹ C2 các giấy tờ nhân thân, kể cả lý lịch đảng viên của ông Nguyễn Vĩnh T đã chứng minh mối quan hệ thừa kế dòng tộc của nguyên đơn là con của ông Bửu T8 và các đồng thừa kế của bà Hồ Thị M3. Ông Nguyễn Vĩnh T có quyền khởi kiện đòi lại đất đối với bà Lương Thị C và ông Đào Hữu M, ông Nguyễn Hữu H1 đối với thửa đất trên theo quy định pháp luật.
- - Về nội dung: Thửa đất số 80 và 81, tờ bản đồ số 23, diện tích đất khoảng 153,9m², tọa lạc tại địa chỉ 110 và A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế do bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M và ông Nguyễn Hữu H1 đang sử dụng nguyên thuộc quyền sử dụng của bà Hồ Thị M3.
Ông Bửu T8 là con của bà Hồ Thị M3, là người thừa kế quản lý thửa đất và đã cho ông Đào Hữu Q2 thuê, theo thỏa thuận ngày phải giao lại đất trước ngày 01/01/1966.
Với quy định pháp luật về đất đai, những người thừa kế hợp pháp của bà Hồ Thị M3 và của ông Bửu T8 khởi kiện yêu cầu những người chiếm dụng đất trả lại đất là đúng quy định của pháp luật.
Nguyên đơn đã xuất trình giấy tờ Trích lục địa bộ của chế độ cũ, chứng minh thửa đất mang số hiệu A261 lập ngày 15/10/1935, nay là các thửa đất và nhà ở gắn liền với đất, trong đó bao gồm cả các thửa đất mang số 80 và 81, tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại địa chỉ 110 và A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế thuộc chủ quyền của bà Hồ Thị M3.
Các thửa đất bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M, ông Nguyễn Hữu H1 đang chiếm dụng chưa “được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của N4 dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền N Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Do đó, việc chiếm hữu và sử dụng đất của ông Đào Hữu Q2 trước đây và tiếp tục chiếm hữu, sử dụng đất của bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M, ông Nguyễn Hữu H1 đối với các thửa đất từ năm 1966 đến nay là hoàn toàn bất hợp pháp.
Quá trình khởi kiện vụ án, nhận thấy ông Bửu T8 cho thuê đất, còn nhà trên đất do ông Đào Hữu Q2, sau này bà C, bà T9 tự làm như hiện nay nên nguyên đơn đã thay đổi yêu cầu và bổ sung đơn khởi kiện với nội dung là chỉ đòi trả lại quyền sử dụng đất, tiền bồi thường về đất do bị giải tỏa.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 164, Điều 166 của Bộ luật dân sự; áp dụng khoản 5, Điều 26, Điều 100, Điều 166, Điều 167 Luật đất đai năm 2013 để quyết định:
- Tuyên bố quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 80 và 81, tờ bản đồ số 23, diện tích đất khoảng 153,9m², tọa lạc tại địa chỉ 110 và A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế nay thuộc quyền của các đồng thừa kế của bà Hồ Thị M3;
- Tiền bồi thường về đất do Nhà nước thực hiện dự án mở đường Lâm Hoằng theo Quyết định số 3823/QĐ-UBND ngày 03/6/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố H “về việc phê duyệt giá trị bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản cho hộ gia đình và cá nhân thuộc dự án nâng cấp, mở đường L tại phường V, gồm:
- + Tiền bồi thường về đất bị thu hồi cho hộ bà Lương Thị C và các đồng thừa kế của ông Đào Q2 tại số A N: 63,00m² = 807.383.000 đồng.
- - Tiền bồi thường về đất bị thu hồi cho các đồng thừa kế của ông, bà Nguyễn Hữu T10 - Đào Thị Phương T9 tại số A N: 30,70m² = 405.451.000 đồng.
Tổng cộng hai khoản: 807.383.000 đồng + 405.451.000 đồng = 1.212.834.000 đồng. Đề nghị nghị Hội đồng xét xử tuyên số tiền này là tài sản thuộc quyền của các đồng thừa kế của bà Hồ Thị M3 được nhận.
- Phần đất còn lại 59,7m² sau khi thu hồi theo dự án làm đường, tọa lạc tại A N, lô 80 hiện đang do bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M chiếm dụng, đề nghị Tòa tuyên buộc bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M trả lại cho các đồng thừa kế của bà Hồ Thị M3, do ông Nguyễn Vĩnh T đại diện.
Bị đơn, đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Đào Hữu M và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn - Luật sư Hoàng Kiến A1 có ý kiến:
- - Về tố tụng: Không đồng ý việc thu thập chứng cứ của Tòa án; Ông Nguyễn Vĩnh T thuộc hàng thừa kế thứ 2, tại đơn khởi kiện ghi có 3 người con, nhưng không có tài liệu nào chứng minh hàng thừa kế của nguyên đơn. Lý lịch Đảng của nguyên đơn chứng minh mối quan hệ, nhưng chưa có văn bản pháp luật nào quy định lý lịch Đảng là văn bản chứng minh mối quan hệ nhân thân, không có giấy khai sinh, người chết không có giấy chứng tử.
- Bà Lương Thị C không hề thuê đất của ông Bửu T8; cần xác định đất đai là của ai và đưa cơ quan nhà nước vào tham gia tố tụng.
- Không thừa nhận ông Nguyễn Vĩnh T, Nguyễn Vĩnh T1 là nguyên đơn.
- - Về nội dung:
Về nguồn gốc quyền sử dụng đất: Trước năm 1975 Ông Đào Hữu Q2 thuê đất từ ông Bửu T8 theo Giấy cho thuê đất ngày 01/01/1957, gia hạn thuê đất ngày 01/01/1960 đến 30/12/1965, diện tích: 12m x 15m =180m², hết thời hạn thuê ông Bửu T8 có làm giấy đòi lại đất.
Sau năm 1975: Năm 1977 Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 111/CP ngày 14 tháng 4 năm 1977 về việc ban hành chính sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà, đất cho thuê ở các đô thị của các tỉnh phía Nam, theo đó tại khoản 6 Mục I quy định: Nhà nước trực tiếp quản lý toàn bộ đất cho thuê không phân biệt diện tích nhiều hay ít và nói chung không bồi hoàn, trừ trường hợp đặc biệt. Như vậy kể từ ngày 14/4/1977 hợp đồng cho thuê đất của ông Bửu T8 và ông Đào Hữu Q2 chính thức bị vô hiệu hoàn toàn.
Tiếp theo, ngày 01/7/1980 Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 201/CP về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước. Theo đó, tại khoản 1 mục I quy định toàn bộ ruộng đất trong cả nước đều do Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch và kế hoạch chung nhằm đảm bảo ruộng đất được sử dụng hợp lý, tiết kiệm và phát triển theo hướng đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
Sau khi kê khai và đăng ký các tổ chức hay cá nhân nào được xác nhận là người quản lý sử dụng hợp pháp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thực hiện Chỉ thị 299 ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc phân hạng và đăng ký ruộng đất trong cả nước gia đình ông Đào Hữu Q2 chấp hành nghiêm các quy định này cụ thể:
Tại bản đồ 299 (đo vẽ năm 1985 - 1987), thửa đất số 81, tờ bản đồ số 23 được trích từ thửa 151, tờ bản đồ số 02, diện tích 166m² có thông tin đăng ký sử dụng đất là Q2 (tức Đào Hữu Q2). Thời điểm này ông Bửu T8 còn sống và không có ý kiến hay tranh chấp. Đăng ký sử dụng tại bản đồ 202 và bản đồ Gis H.
Quá trình thực hiện việc đăng ký của gia đình ông Đào Hữu Q2 không có tranh chấp hay bị từ chối từ phía cơ quan Nhà nước mãi cho đến năm 2016 các con của ông Bửu T8 mới có tranh chấp.
Về nguyên tắc Nhà nước không công nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách về đất đai, cụ thể khoản 2 Điều 2 Luật Đất đai năm 1993; khoản 2 Điều 10 Luật Đất đai năm 2003, khoản 5 Điều 26 Luật Đất đai 2013 đều có quy định rõ: “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền N Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Vì vậy, ông Đào Hữu Q2, sau này là gia đình, con cháu của ông là bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M, ông Nguyễn Hữu H1 đã sử dụng ổn định lâu dài trên thửa đất từ đó đến nay quá trình đăng ký kê khai đăng ký quyền sử dụng đất của ông Đào Hữu Q2, ông Bửu T8 biết nhưng không phản đối; quá trình sử dụng đất ông Đào Hữu Q2 và sau này là con cháu của ông đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người sử dụng đất và nộp thuế theo quy định.
Do đó, ông Đào Hữu Q2 và sau này là hộ gia đình bà Lương Thị C và Đào Thị Phương T9 được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất là đúng với quy định của pháp luật và toàn bộ tài sản trên đất của gia đình bị đơn tạo lập nên nguyên đơn không có quyền đòi lại.
Về yêu cầu được nhận số tiền bồi thường về đất mà Nhà nước thu hồi khi mở đường Lâm Hoằng của nguyên đơn:
- + Ngày 04/5/2015, Ủy ban nhân dân thành phố H đã ra thông báo thu hồi đất, trong danh sách có hộ gia đình bà Lương Thị C và bà Đào Thị Phương T9 là đối tượng sử dụng đất của hai thửa đất số 80, 81, tờ bản đồ số 23, 153.9m² tại số A, A N, phường V, thành phố H.
Trên thực tế ông Đào Hữu Q2 sau này là gia đình con cháu của ông là bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M, ông Nguyễn Hữu H1 đã sử dụng ổn định lâu dài trên thửa đất từ đó đến nay là hơn 66 năm, quá trình sử dụng đất ngoài việc xây dựng công trình trên đất gia đình bị đơn cũng là người trực tiếp đứng ra kê khai nhà đất với Nhà nước theo chủ trương thống nhất quản lý đất đai của Nhà nước; điều này được ghi nhận trong các bản đồ quản lý nhà nước về đất đai đều đứng tên ông Q2, bà Lương Thị C bà Đào Thị Phương T9.
Quá trình sử dụng đất bị đơn cũng đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người sử dụng đất và nộp thuế theo quy định. Việc Nhà nước đã bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản cho hộ gia đình bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M cũng như ông Nguyễn Hữu H1 là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.
Vì vậy, việc nguyên đơn yêu cầu được nhận số tiền bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi một phần diện tích nêu trên là hoàn toàn không có căn cứ.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ:Điều 19, Điều 20 Hiến pháp năm 1980; Điều 1 Luật Đất đai năm 1987; Quyết định 201-CP của Hội đồng Chính Phủ năm 1980; Chỉ thị 299 của Thủ tướng Chính phủ; khoản 2 Điều 2 Luật Đất đai năm 1993; khoản 2 Điều 10 Luật Đất đai năm 2003; khoản 1, khoản 3 Điều 6, khoản 5 Điều 26 Luật Đất đai 2013; khoản 2 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự, T11: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Vĩnh T và Nguyễn Vĩnh T1 về việc yêu cầu trả lại đất cho thuê tại thửa đất số 80, 81, tờ bản đồ số 23, diện tích 153.9m², tại số A, A N, phường V, thành phố H.
Bác yêu cầu được nhận số tiền bồi thường về đất của nguyên đơn đối với bị đơn bà Lương Thị C; ông Đào Hữu M; ông Nguyễn Hữu H1 đã được nhận theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 136/2023/DS-ST ngày 16/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, đã quyết định:
Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 155, khoản 1 Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Vĩnh T và ông Nguyễn Vĩnh T1.
- Buộc bị đơn bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đăng ký hộ khẩu thường trú, đang ở tại thửa đất số 80, tờ bản đồ số 23, tại địa chỉ A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế phải trả lại cho ông Nguyễn Vĩnh T, ông Nguyễn Vĩnh T1 và các đồng thừa kế của bà Hồ Thị Mỹ Q3 sử dụng đất tại thửa đất số 80, tờ bản đồ số 23, với diện tích: 59,7m², địa chỉ tại: A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, trên đất có ngôi nhà 02 tầng, diện tích xây dựng: 39,2m², diện tích sàn: 77,6m² do bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M và bà Huỳnh Thị H2 tạo lập. (Có bản vẽ hiện trạng nhà, đất kèm theo bản án này).
- Ông Nguyễn Vĩnh T, ông Nguyễn Vĩnh T1 và các đồng thừa kế của bà Hồ Thị M3 có quyền được nhận số tiền bồi thường về quyền sử dụng đất tại thửa đất số 80, tờ bản đồ số 23, địa chỉ tại: A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (tại Quyết định số 3823/QĐ-UBND ngày 3/6/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố H), với số tiền: 686.275.550 đồng (S trăm tám mươi sáu triệu, hai trăm bảy mươi lăm nghìn, năm trăm năm mươi đồng).
Ông Nguyễn Vĩnh T, ông Nguyễn Vĩnh T1 và các đồng thừa kế của bà Hồ Thị M3 có quyền được nhận số tiền bồi thường về quyền sử dụng đất tại thửa đất số 81, tờ bản đồ số 23, địa chỉ tại: A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (tại Quyết định số 3823/QĐ-UBND ngày 3/6/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố H), với số tiền: 344.633.350 đồng (Ba trăm bốn mươi bốn triệu, sáu trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm năm mươi đồng).
- Bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M và các đồng thừa kế của ông Đào Q2 được nhận số tiền bồi thường về quyền sử dụng đất tại thửa đất số 80, tờ bản đồ số 23, địa chỉ tại: A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (tại Quyết định số 3823/QĐ-UBND ngày 3/6/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố H), với số tiền: 121.107.450 đồng (Một trăm hai mươi mốt triệu, một trăm linh bảy nghìn, bốn trăm năm mươi đồng).
- Ông Nguyễn Hữu H1 và các đồng thừa kế của ông Nguyễn Hữu T10 và bà Đào Thị Phương T9 được nhận số tiền bồi thường về quyền sử dụng đất tại thửa đất số 81, tờ bản đồ số 23, địa chỉ tại: A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (tại Quyết định số 3823/QĐ-UBND ngày 3/6/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố H), với số tiền: 60.817.650 đồng (Sáu mươi triệu, tám trăm mười bảy nghìn, sáu trăm năm mươi đồng).
- Buộc ông Nguyễn Vĩnh T, ông Nguyễn Vĩnh T1 và các đồng thừa kế của bà Hồ Thị M3 có nghĩa vụ thanh toán cho bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M và bà Huỳnh Thị H2 số tiền giá trị ngôi nhà 02 tầng trên quyền sử dụng đất tại thửa đất số 80, tờ bản đồ số 23, địa chỉ tại: A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, với số tiền: 175.879.567 đồng (Một trăm bảy mươi lăm triệu, tám trăm bảy mươi chín nghìn, năm trăm sáu mươi bảy đồng).
Buộc ông Nguyễn Vĩnh T, ông Nguyễn Vĩnh T1 và các đồng thừa kế của bà Hồ Thị M3 có nghĩa vụ thanh toán cho bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M và các đồng thừa kế của ông Đào Q2 số tiền trích công sức giữ gìn tôn tạo về quyền sử dụng đất, với số tiền: 626.850.000 đồng (Sáu trăm hai mươi sáu triệu, tám trăm năm mươi nghìn đồng).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo, về án phí dân sự theo quy định pháp luật.
Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 424/QĐ-VKS-DS ngày 27/10/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế kháng nghị một phần Bản án Dân sự sơ thẩm số 136/2023/DS-ST ngày 16/10/2023 của Toà án nhân dân thành phố Huế đối với phần án phí; đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa một phần Bản án Dân sự sơ thẩm số 136/2023/DS-ST ngày 16/10/2023 của Toà án nhân dân thành phố Huế đối với phần án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M và ông Nguyễn Hữu H1 phải chịu 300.000 đồng. Mỗi người phải chịu 100.000 đồng; Buộc bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M và các đồng thừa kế của ông Đào Q2 phải chịu 31.451.022 đồng; Buộc ông Nguyễn Hữu H1 và các đồng thừa kế của ông Nguyễn Hữu T10 và bà Đào Thị Phương T9 phải chịu 17.231.667 đồng; Buộc ông Nguyễn Vĩnh T, Nguyễn Vĩnh T1 và các đồng thừa kế của bà Hồ Thị M3 phải chịu 46.964.232 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2013/003191 ngày 30/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế. Ông Nguyễn Vĩnh T, Nguyễn Vĩnh T1 và các đồng thừa kế của bà Hồ Thị M3 còn phải nộp số tiền 46.664.232 đồng.
Tại đơn kháng cáo ngày 30/10/2023, nguyên đơn Nguyễn Vĩnh T đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, huỷ bỏ nội dung tại khoản 6 trong phần quyết định của Bản án Dân sự sơ thẩm số 136/2023/DS-ST ngày 16/10/2023 của Toà án nhân dân thành phố Huế về việc “Buộc ông Nguyễn Vĩnh T, ông Nguyễn Vĩnh T1 và các đồng thừa kế của bà Hồ Thị M3 có nghĩa vụ thanh toán cho bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M và bà Huỳnh Thị H2 số tiền giá trị ngôi nhà 02 tầng trên quyền sử dụng đất tại thửa đất số 80, tờ bản đồ số 23, địa chỉ tại: A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, với số tiền: 175.879.567 đồng”. Tại đơn kháng cáo ngày 23/10/2023, bị đơn ông Nguyễn Hữu H1 kháng cáo toàn bộ nội dung Bản án Dân sự sơ thẩm số 136/2023/DS-ST ngày 16/10/2023 của Toà án nhân dân thành phố Huế do nhận định và quyết định của Toà án nhân dân thành phố Huế không phù hợp với bản chất vụ án, vi phạm một số quy định của Luật Đất đai, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm đình chỉ giải quyết vụ án vì nguyên đơn chưa đủ điều kiện khởi kiện. Tại đơn kháng cáo ngày 27/10/2023, bị đơn bà Lương Thị C và ông Đào Hữu M kháng cáo toàn bộ nội dung Bản án Dân sự sơ thẩm số 136/2023/DS-ST ngày 16/10/2023 của Toà án nhân dân thành phố Huế do Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã không đảm bảo việc tuân theo pháp luật về luật tố tụng trong việc thu thập tài liệu chứng cứ cũng như việc áp dụng pháp luật về đất đai qua các thời kỳ còn nhiều thiếu sót, chưa triệt để dẫn đến bản án được tuyên không đúng pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông bà, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm, trả hồ sơ để xét xử sơ thẩm lại theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 80, tờ bản đồ số 23 toạ lạc tại số A N, phường V, thành phố H thuộc về bị đơn, tuyên bị đơn nhận toàn bộ tiền bồi thường quyền sử dụng đất do bị thu hồi để mở đường Lâm Hoằng tại thửa đất nêu trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế có quan điểm:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- - Kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế trong thời hạn tố tụng, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 115, khoản 2, 3 Điều 155, Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Luật đất đai qua các thời kỳ 1987, 1993, 2003; Điều 203, Điều 166 Luật đất đai năm 2013; giải quyết vụ án theo hướng:
- + Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- + Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết chấp nhận nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự giữ nguyên nội dung kháng cáo, không thỏa thuận được nội dung giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.
Về việc kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên một phần án sơ thẩm và sửa án sơ thẩm về phần buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo nội dung kháng nghị. (kèm theo phát biểu quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Kháng cáo của nguyên đơn Ông Nguyễn Vĩnh T, của bị đơn bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M, ông Nguyễn Hữu H1, và Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế là hợp lệ trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.1]. Về tư cách tham gia tố tụng của đương sự:
Tại cấp sơ thẩm việc xác định thiếu người tham gia tố tụng là Ủy ban nhân dân phường V, bị đơn kháng cáo có căn cứ, tại cấp phúc thẩm đã được bổ sung theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về tư cách nguyên đơn:
Trên cơ sở các tài liệu do nguyên đơn - ông Nguyễn Vĩnh T, Nguyễn Vĩnh T1 cung cấp bản Nguyễn Phước Tộc Thế P, bản danh sách bia mộ của ông Ưng K1 và bà Hồ Thị M3 và sự thừa nhận của những người có quyền lợi liên quan đứng về phía nguyên đơn, có căn cứ xác định ông Ưng K1 và bà Hồ Thị M3 là bố, mẹ đẻ của các ông Nguyễn Bửu T8 (tức Bửu Tẩu); ông Bửu B2, những người còn lại đều đã chết khi còn trẻ, không có vợ, chồng, con cái; cụ thể:
- Ông Bửu T8 có vợ là bà Bùi Thị Ngọc A2 sinh hạ được 05 người con (bút lục số 11), gồm:
- Bà Nguyễn Thị Nhị Đ1, sinh năm 1934, trú tại A N, phường V, thành phố H; chết năm 2016 không có chồng, con.
- Ông Nguyễn Vĩnh T, sinh năm 1939; trú tại 2 L, phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh;
- Ông Nguyễn Vĩnh T1, sinh năm 1935, trú tại A đường số B, khu dân cư T, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh;
- Ông Nguyễn Vĩnh T3, sinh năm 1948, trú tại A N, phường V, thành phố H;
- Bà Nguyễn Phước Thị Bích N1, sinh năm 1946, chết năm 2013. Trước khi chết Bà không đăng ký kết hôn với ai và có 01 người con ngoài giá thú duy nhất là ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1963 (cháu ngoại của ông Bửu T8); trú tại 1 đường B khu phố A, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh;
- Ông Bửu B2 và vợ là bà Huỳnh Thị V (đều đã chết) có 01 người con duy nhất là ông Vĩnh T2 (là cháu nội của bà Hồ Thị M3), sinh năm 1949, trú tại Tổ dân phố E, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Các đương sự cam đoan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp hàng thừa kế của cụ ông Ưng K1 và bà Hồ Thị M3. Các con của cụ Ưng K1 và cụ bà Hồ Thị M3 đều đã chết, chỉ có ông Bửu T8, Bửu B2 còn sống nên các ông Nguyễn Vĩnh T, Nguyễn Vĩnh T1, Nguyễn Vĩnh T3, bà Nguyễn Thị Nhị Đ1, bà Nguyễn Phước Thị Bích N1, ông Vĩnh T2 thuộc là những người hàng thừa kế thứ hai của cụ bà Hồ Thị M3. Do đó, cấp sơ thẩm xác định tư cách tham gia tố tụng của nguyên đơn là có căn cứ.
- Về tư cách bị đơn: Ông Đào Hữu Q2 đã chết, có vợ là bà Lương Thị C và những người trực tiếp sinh sống trên thửa đất đang tranh chấp: Ông Đào Hữu M, bà Đào Thị Phương T9 và ông Nguyễn Hữu H1 được xác định với tư cách bị đơn là đảm bảo theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Những người còn lại được tham gia tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đảm bảo đúng quy định pháp luật.
[1.2]. Về sự vắng mặt của đương sự:
Đối với đương sự vắng mặt đã có ủy quyền theo quy định, có đơn xin vắng mặt đảm bảo các quy định pháp luật; đối với đương sự đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần vắng mặt nhưng không làm ảnh hưởng quyền lợi của họ.
Đối với nguyên đơn ông Nguyễn Vĩnh T, trong giai đoạn phúc thẩm do ốm đau, tuổi cao sức yếu và điều kiện xa xôi đã nhiều ông lần có đơn đề nghị hoãn phiên tòa. Ngày 02 tháng 10 năm 2024 ông đã có giấy ủy quyền cho ông Nguyễn Thanh H tham gia tố tụng và ông có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Xét yêu cầu của ông là có căn cứ pháp luật. Hội đồng xét xử đã làm rõ tại phiên tòa, ông Nguyễn Thanh H là người được ủy quyền cam đoan và chịu trách nhiệm về nội dung được ủy quyền.
Các đương sự, người bảo vệ quyền lợi cho đương sự có mặt tại phiên tòa; đại diện Viện kiểm sát xét thấy sự vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm của những người này không làm ảnh hưởng quyền lợi của họ nên đều có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1]. Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp và yêu cầu của nguyên đơn:
Theo nội dung khởi kiện của nguyên đơn, ông Nguyễn Vĩnh T, ông Nguyễn Vĩnh T1 và những người có quyền lợi liên quan trình bày:
Thửa đất do bà Hồ Thị M3 (là bà nội) để lại là một phần của thửa đất có số hiệu A261 theo bản Trích lục địa bộ ngày 15/10/1935, tọa lạc tại thôn V, tổ N, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, (nay là phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế) là thửa đất và nhà ở gắn liền với đất. Trong đó có nhà đất tại thửa đất số 80 và 81, tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại 110 và A N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế có diện tích khoảng 180m² (theo quyết định giải tỏa có diện tích khoảng 153,9m²).
Sau khi bà Hồ Thị M3 qua đời, ông Nguyễn Bửu T8 là bố của các đồng nguyên đơn tiếp tục sử dụng toàn bộ thửa đất nói trên. Trong quá trình sử dụng đất, vào năm 1957 ông Nguyễn Bửu T8 (B) có cho ông Đào Hữu Q2 (là chồng của bà C, bố của ông Đào Hữu M, bà Đào Thị Phương T9 và là ông ngoại của ông Nguyễn Hữu H1) thuê một phần thửa đất để làm nhà ở. Việc cho thuê có lập giấy cho thuê diện tích 180m², thời hạn thuê 03 năm, giá 810 đồng, trả tiền ngay lúc làm giấy, có xác nhận của Hội đồng hành chính xã P. Hết hạn thuê lần thứ nhất vào năm 1960 ông Đào Hữu Q2 xin tiếp tục thuê, nên hai bên có lập giấy cho thuê diện tích thuê là 15m x 12m (tức 180m²), thời hạn thuê 06 năm, mãn hạn thuê vào ngày 30/12/1965, giá thuê: 1.620 đồng, ông Đào Hữu Q2 đã trả tiền và ông Bửu T8 đã nhận đủ tiền cho thuê.
Khi sắp hết thời hạn thuê lần thứ 2, vào ngày 15/3/1965 cha của các ông có gửi giấy cho ông Đào Hữu Q2 yêu cầu trả lại đất khi hết thời gian thuê, trước ngày 01/01/1966. Do không gặp ông Q2 để giao giấy nên con ông Q2 là Đào Hữu H5 đã nhận thay giấy này để chuyển lại cho ông Q2.
Tuy nhiên, Giấy cho thuê có xác nhận của xã P ngày 19/9/1960, cả hai giấy viết tay thuê đất do nguyên đơn cung cấp đều là bản photocoppy, không rõ nội dung và giấy gửi cho ông Q2 để đòi lại đất được đánh máy nhưng không có chữ ký xác nhận của ông H5 như nguyên đơn trình bày.
Khi hết thời hạn thuê, hai bên đã thỏa thuận trả lại nhà, đất cho cha các ông nhưng do chưa tìm được chỗ ở nên ông Q2 xin gia đình cho ở thêm một thời gian khi nào tìm được chỗ ở sẽ chuyển đi, việc cho ở không lấy tiền. Sau ngày giải phóng gia đình ông Q2 vẫn tiếp tục ở tại phần đất này, và không trả tiền thuê đất cho ông Bửu T8 nữa.
Sau khi cha của các ông qua đời năm 1992, vào năm 1995 ông Q2 và bà Đào Thị Phương T9 đã xây dựng, sửa chữa nhà ở, phía nguyên đơn đã có đơn đề nghị giải quyết. Trong quá trình tranh chấp, Ủy ban nhân dân phường V đã tổ chức hòa giải 02 lần nhưng không thành (ngày 27/6/2015 và 25/7/2015).
Năm 1997 ông Đào Hữu Q2 chết, gia đình bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M và bà Đào Thị Phương T9 (sau này là ông Nguyễn Hữu H1 con của bà T9) tiếp tục quản lý, sử dụng đất cho đến nay.
Hiện nay, thửa đất này đã được tách thành 2 thửa, thửa số 80 tờ bản đồ số 23, diện tích 123m² do bà C và ông M sử dụng; thửa số 81, tờ bản đồ số 23, diện tích 30,9m² do con gái ông Q2, bà C là bà Đào Thị Phương T9 và ông H1 sử dụng.
Nguyên đơn yêu cầu khởi kiện buộc bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M và ông Nguyễn Hữu H1 phải trả lại toàn bộ quyền sử dụng đất chiếm dụng bất hợp pháp do hết thời hạn thuê mà không trả lại tại thửa đất số 80 và 81 tờ bản đồ số 23, diện tích khoảng 153,9m², tọa lạc tại địa chỉ 110 và A N, phường V, thành phố H.
Ngoài ra, nguyên đơn còn yêu cầu đối với bị đơn phải trả khoản tiền được Nhà nước đền bù do giải tỏa thửa đất để thực hiện dự án nâng cấp, mở rộng đường L, phường V, thành phố H, cụ thể:
- - Thu hồi một phần diện tích nhà đất khoảng 60m²/123m² tại thửa đất số 80, tờ bản đồ số 23, địa chỉ A N, phường V, thành phố H (đang do bà Lương Thị C và ông Đào Hữu M sử dụng), với số tiền bồi thường 807.383.000 đồng;
- - Thu hồi toàn bộ nhà đất với diện tích 30,7m² tại thửa đất số 81, tờ bản đồ số 23 tại địa chỉ A N, phường V, thành phố H do ông Nguyễn Hữu H1 sử dụng, số tiền bồi thường 405.451.000 đồng.
- Đề nghị Tòa án tuyên nguyên đơn có quyền được nhận số tiền bồi thường về đất là 1.212.834.000 đồng và không yêu cầu tiền đền bù tài sản gắn liền với đất.
[2.2]. Đối với ý kiến của Bị đơn:
Thừa nhận nguồn gốc thửa đất do Ông Đào Hữu Q2 thuê đất từ ông Bửu T8 theo Giấy cho thuê đất ngày 1/1/1957, gia hạn thuê đất ngày 01/01/1960 đến 30/12/1965, diện tích: 12m x 15m =180m², như nội dung nguyên đơn trình bày.
Tuy nhiên, về nguồn gốc nhà là do vợ chồng ông Q2, bà C tạo lập, xây dựng sửa chữa từ khi thuê đất và qua nhiều thời kỳ nên nguyên đơn tranh chấp đòi lại là không có căn cứ. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm nguyên đơn cũng đã rút yêu cầu này và đã được Tòa án chấp nhận, bị đơn không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Theo quy định pháp luật, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 111/CP ngày 14 tháng 4 năm 1977 về việc ban hành chính sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà, đất cho thuê ở các đô thị của các tỉnh phía Nam, theo đó tại khoản khoản 6 Mục I quy định: “Nhà nước trực tiếp quản lý toàn bộ đất cho thuê không phân biệt diện tích nhiều hay ít và nói chung không bồi hoàn, trừ trường hợp đặc biệt".
Chỉ thị 299 ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc phân hạng và đăng ký ruộng đất trong cả nước gia đình ông Đào Hữu Q2 chấp hành nghiêm các quy định, cụ thể: Tại bản đồ 299 (đo vẽ năm 1985 - 1987), thửa đất số 81, tờ bản đồ số 23 được trích từ thửa 151, tờ bản đồ số 02, diện tích 166m² có thông tin đăng ký sử dụng đất là Q2 (tức Đào Hữu Q2). Thời điểm này ông Bửu T8 còn sống và không có ý kiến hay tranh chấp. Đăng ký sử dụng tại bản đồ 202 và bản đồ Gis H. Quá trình thực hiện việc đăng ký của gia đình ông Đào Hữu Q2 không có tranh chấp hay bị từ chối từ phía cơ quan Nhà nước mãi cho đến năm 2016 các con của ông Bửu T8 mới có tranh chấp.
Tại khoản 2 Điều 2 Luật Đất đai năm 1993; khoản 2 Điều 10 Luật Đất đai năm 2003, khoản 5 Điều 26 Luật Đất đai 2013 đều có quy định rõ: “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền N Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 1 Luật Đất đai năm 1987; Quyết định 201 của Hội đồng Chính phủ năm 1980; Chỉ thị 299 của Thủ tướng Chính phủ; khoản 2 Điều 2 Luật Đất đai năm 1993; khoản 2 Điều 10 Luật Đất đai năm 2003; khoản 1, khoản 3 Điều 6, khoản 5 Điều 26 Luật Đất đai 2013; Tuyên: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Vĩnh T và Nguyễn Vĩnh T1 về việc yêu cầu trả lại đất cho thuê tại thửa đất số 80, 81, tờ bản đồ số 23, diện tích 153.9m², tại số A, A N, phường V, thành phố H.
Đồng thời bác yêu cầu của nguyên đơn đòi nhận số tiền nhà nước đã kê khai bồi thường đất đối với hộ bà Lương Thị C; ông Đào Hữu M; ông Nguyễn Hữu H1 theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Nguồn gốc thửa đất tranh chấp theo ghi nhận giữa các bên đương sự là một phần thửa đất do cụ bà Hồ Thị M3 để lại từ trước năm 1975, sau khi cụ M3 là mẹ ruột của cụ ông Nguyễn Bửu T8 (tức Bửu T8 là bố đẻ của các nguyên đơn) chết thì ông Bửu T8 tiếp tục quản lý, sử dụng.
Trong quá trình sử dụng đất, vào năm 1957 ông Nguyễn Bửu T8 (B) đã cho ông Đào Hữu Q2 (là chồng của bà C, bố của ông Đào Hữu M, bà Đào Thị Phương T9 và là ông ngoại của ông Nguyễn Hữu H1) thuê một phần thửa đất để làm nhà ở. Việc cho thuê có lập giấy cho thuê diện tích 180m², thời hạn thuê 03 năm, giá 810 đồng, trả tiền ngay lúc làm giấy, có xác nhận của Hội đồng hành chính xã P. Hết hạn thuê lần thứ nhất vào năm 1960 ông Đào Hữu Q2 xin tiếp tục thuê, nên hai bên có lập giấy cho thuê diện tích thuê là 15m x 12m (tức 180m²), thời hạn thuê 06 năm, mãn hạn thuê vào ngày 30/12/1965, giá thuê: 1.620đ, ông Đào Hữu Q2 đã trả tiền và ông Bửu T8 đã nhận đủ tiền cho thuê. Giấy cho thuê có xác nhận của xã P ngày 19/9/1960.
Các bên đương sự đều thừa nhận trên cơ sở hợp đồng thuê đất giữa cụ Bửu T8 và cụ Đào Hữu Q2, có xác nhận của chính quyền chế độ cũ; sau khi hết hạn thuê lần thứ hai, do bên thuê không có điều kiện về chỗ ở mới, nên tiếp tục ở nhưng không trả tiền thuê cho đến ngày giải phóng. Sau năm 1975 bên thuê là cụ Đào Hữu Q2 và vợ là Lương Thị C tiếp tục ở có kê khai đăng ký cho đến khi cụ Bửu T8 chết (năm 1992) nhưng cụ T8 vẫn không có ý kiến gì.
Sau khi cụ ông Bửu T8 chết thì ông Nguyễn Vĩnh T3 là con cụ T8 tiếp tục quản lý thửa đất do bà M3 để lại cho đến nay, và quá trình kê khai ông T8, ông T3 cũng đã không kê khai phần đất do ông Bửu T8 cho ông Q2 thuê trước đó mà đã tách phần đất được ông Q2 kê khai ra khỏi phần đất do bà M3 để lại và được điều chỉnh như hiện nay là hoàn toàn đúng thực tế.
Tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Vĩnh T3 - Ông Nguyễn Phước Bảo K và Ông Nguyễn Huy Q1, chức vụ Công chức Địa chính - Xây dựng - Đô thị - Môi trường là người đại diện Ủy ban nhân dân Phường V đã thừa nhận sự việc này là hoàn toàn thực tế. Đồng thời, qua xác minh phù hợp với các nội dung thể hiện đã được cụ Q2, cụ C kê khai đối với thửa đất, cụ thể:
Sau năm 1975 ông Đào Hữu Q2 là người đăng ký thửa đất này theo Chỉ thị 299, thửa đất số 151, tờ bản đồ số 02, diện tích 166m², khi đăng ký không ai khiếu nại tranh chấp. Năm 1989 ông Đào Hữu Q2 mất thì người tiếp tục quản lý nhà đất này và hiện nay tại sổ mục kê của phường V, thành phố H, thửa đất này được ghi nhận số thứ tự 80, tên chủ sử dụng đất là Lương Thị C, diện tích 122,96m², đất ở. Tại bản đồ 202, tên chủ sử dụng đất là Lương Thị C, thửa số 80, tờ bản đồ 23, diện tích 123m², đo vẽ tháng 4/1997. Tuy nhiên, qua thống kê, đo đạc để giải tỏa, đền bù của nhà nuốc thì thửa đất có diện tích là 153.9m².
Đến năm 2005 tại bản đồ Gis, thửa đất số 80 đứng tên Lương Thị C, diện tích 123m², tại A N, phường V, thành phố H; phần còn lại trước đó do cụ Q2, cụ C đã cho con gái là Đào Thị Phương T9 và chồng là ông Nguyễn Hữu T10 (ông T10 đã chết) một phần trong thửa đất tranh chấp và đã được kê khai là thửa đất số 81, diện tích 30,9 m² địa chỉ số A N, phường V, thành phố H.
Sau khi cụ Bửu T8 chết, các con của cụ T8 cũng không ai có ý kiến khiếu nại cho đến năm 2015 khi bà Nguyễn Thị Nhị Đ1 khiếu nại đã được Ủy ban nhân dân phường V đã tổ chức hòa giải 02 lần vào các ngày 27/6/2015 và 25/7/2015 nhưng không thành.
Ngày 04/5/2015, Ủy ban nhân dân thành phố H đã ra thông báo thu hồi đất, trong danh sách có hộ gia đình bà Lương Thị C và bà Đào Thị Phương T9 là đối tượng sử dụng đất của hai thửa đất số 80, 81, tờ bản đồ số 23, 153.9m² tại số A, A N, phường V, thành phố H. Đến năm 2016, do giải phóng mặt bằng để xây dựng đường L nên hộ bà C, ông M và bà T9, ông H1 được nhà nước kê khai và đền bù đất, bồi thường và hỗ trợ tái định cư theo quy định pháp luật trên cơ sở kết quả kê khai, đăng ký sử dụng đất trước đó của vợ chồng ông Q2, bà C.
Xét thấy: Thửa đất tranh chấp ở đô thị gia đình cụ ông Đào Hữu Q2 vào ở từ trước năm 1975 và sử dụng từ trước đó cho đến nay trên cơ sở hai lần thực hiện hợp đồng thuê đất với ông Bửu T8 có xác nhận của chính quyền chế độ cũ.
Sau ngày miền N hoàn toàn giải phóng, thửa đất tranh chấp thuộc trường hợp được quy định tại nội dung Quyết định số 111/CP ngày 14/4/1977 của Hội đồng Chính phủ về việc ban hành chính sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà, đất cho thuê ở các đô thị phía Nam. Tại các khoản 6 và 7 Mục I, quy định:
“6. Nhà nước trực tiếp quản lý toàn bộ đất cho thuê không phân biệt diện tích nhiều hay ít và nói chung không bồi hoàn, trừ trường hợp đặc biệt.
7. Người đang thuê đất được phép sử dụng mà không được mua bán, chuyển dịch mà phải tuân theo những quy định về quản lý nhà đất ở đô thị”.
Do đó, thửa đất nguyên đơn đang tranh chấp đòi lại có nguồn gốc do cụ Hồ Thị Mỹ C3 không để lại di chúc, theo quy định pháp luật về đất đai của N4 nay không còn thuộc quyền sử dụng của cụ Bửu T8 và các đồng thừa kế của cụ Hồ Thị Mỹ N2.
Trong suốt quá trình sử dụng khi còn sống ông Q2 đã kê khai, sau này bà C, ông M, bà T9 và ông H1 tiếp tục đăng ký kê khai theo quy định và được tách thành hai thửa như hiện nay gồm thửa số 80, 81, tờ bản đồ số 23, tổng diện tích 153.9m² tại số A, A N, phường V, thành phố H; trong đó bà C 123,2 m², bà T9 30,7 m² là có căn cứ.
Trên cơ sở đó, năm 2016 Ủy ban nhân dân phường V và Ủy ban nhân dân thành phố H đã thực hiện chính sách giải tỏa, đền bù cho hộ bà C, bà T9 trên cơ sở kê khai về quyền sử dụng đất, nhà ở trên đất phù hợp, đảm bảo các quy định pháp luật về chính sách quản lý đất đai của nhà nước.
Xét thấy, nội dung tranh chấp của vụ án có nội dung tương tự các vụ án đã được Tòa án nhân dân các cấp thuộc các tỉnh phía Nam đã giải quyết, xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi lại đất cho thuê. Sau đó đã bị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm theo hướng: Hủy toàn bộ vụ án để xét xử lại đúng quy định pháp luật, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ thể:
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 2027/DS-ST ngày 17/12/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và nội dung Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thể hiện: Thửa đất tọa lạc tại B H, phường A, quận P, thành phố Hồ Chí Minh trước năm 1975 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của cụ Nguyễn Văn C4 (chồng cụ Y chết năm 2000). Ngày 07/9/1971 cụ C4 lập “Tờ giao kèo cho mướn đất” với cụ Lê Văn Q4 (chết năm 2000, là cha của ông Lê Văn Q5, bà Lê Thị N3) thuê phần đất nêu trên để cất nhà ở với giá 300 đồng/tháng, trong thời hạn 10 năm. Giấy cho mượn có xác nhận của chính quyền chế độ cũ. Nay hai bên cũng thừa nhận có việc giao dịch như nội dung nguyên đơn xuất trình. Quá trình sử dụng sau 1975, gia đình cụ Q4 vẫn ở đây và không trả tiền cho cụ Q5 nữa. Năm 1977 cụ Q4 đã kê khai nhà theo chính sách quản lý nhà của nhà nước ở thời điểm này. Năm 1993 có việc hai bên tranh chấp đất đã được chính quyền giải quyết, thương lượng nhưng cũng không được phía gia đình cụ Q4 chấp nhận. Sau đó, gia đình cụ C4 khởi kiện và đã được Tòa án các cấp tại thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Do có kháng cáo của bị đơn nên ngày 04/6/2012 Tòa phúc thẩm TANDTC tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử phúc thẩm, giữ nguyên nội dung bản án sơ thẩm.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 77/2013/DS-GĐT ngày 27/6/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận kháng nghị số 199/2012/KN-DS của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 161/2009/ ngày 04/6/2012 của Tòa phúc thẩm TANDTC tại Thành phố Hồ Chí Minh và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 2027/DS-ST ngày 17/12/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có cơ sở để xác định thửa đất đang tranh chấp thuộc đất ở đô thị, ông Đào Hữu Q2 và Lương Thị C sử dụng đất tranh chấp là trên cơ sở hợp đồng thuê đất. Theo Quyết định 111/CP ngày 14/4/1977 của Hội đồng Chính phủ về việc ban hành chính sách quản lý và cải tạo XHCN đối với nhà, đất cho thuê ở các đô thị của các tỉnh phía Nam thì “Nhà nước sẽ quản lý toàn bộ đất cho thuê, không phân biệt nhiều hay ít và nói chung không bồi hoàn trừ trường hợp đặc biệt” như đã nêu trên. Như vậy, thửa đất tranh chấp nêu trên không còn thuộc quyền sử dụng của người cho thuê đất mà thuộc sự quản lý của Nhà nước; người thuê đất đương nhiên được quyền sử dụng đất đó không đòi hỏi phải có quyết định cá biệt về quản lý đất.
Quyết định số 3823/QĐ-UBND ngày 03/6/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố H đã thực hiện việc kê khai, giải quyết đền bù nhà, đất cho gia đình bà Lương Thị C và bà Đào Thị Phương T9 khi thực hiện dự án mở rộng đường L tại thửa đất này là có căn cứ theo quy định pháp luật về đất đai.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy căn cứ các quy định tại khoản 6, 7 Mục I Quyết định 111/CP ngày 14/4/1977 của Hội đồng Chính phủ về việc ban hành chính sách quản lý và cải tạo XHCN đối với nhà, đất cho thuê ở các đô thị của các tỉnh phía Nam; khoản 1 Mục I Quyết định 201-CP nagy 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ; Điều 1 Luật Đất đai năm 1987; khoản 1, khoản 2 Điều 2 Luật Đất đai năm 1993; khoản 2 Điều 10 Luật Đất đai năm 2003; khoản 5 Điều 26 Luật Đất đai 2013 và nội dung Quyết định giám đốc thẩm số 77/2013/DS-GĐT ngày 27/6/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hủy các bản án dân sự sơ thẩm, phúc thẩm nêu trên có nội dung tranh chấp tương tự tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất cho thuê có đối tượng, thời gian, về hình thức và nội dung của hợp đồng để xem xét áp dụng theo đúng quy định pháp luật.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Cần phải sửa toàn bộ nội dung án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện và toàn bộ nội dung kháng cáo của nguyên đơn; tại phiên tòa bị đơn rút một phần nội dung kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm và đề nghị sửa bản án để bác yêu cầu của nguyên đơn, nên cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn.
Đối với nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố H theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 424/QĐ-VKS-DS ngày 27/10/2023 kháng nghị Bản án sơ thẩm số 136/2023/DS-ST ngày 16/10/2023 của Toà án nhân dân thành phố Huế về việc xác định nghĩa vụ chịu án phí dân sự có giá ngạch.
Xét thấy, nội dung kháng nghị về nghĩa vụ chịu án phí đối với loại án phí có giá ngạch là có căn cứ; do quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận và bị sửa toàn bộ nên nội dung kháng nghị yêu cầu buộc bị đơn phải chịu án phí cũng không được chấp nhận, nên cần buộc nguyên đơn phải chịu.
[3]. Về án phí dân sự:
[3.1]. Án phí dân sự sơ thẩm:
[3.1.1]. Buộc Nguyên đơn ông Nguyễn Vĩnh T, Nguyễn Vĩnh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch số tiền 300.000 đồng,
[3.1.2]. Về án phí có giá ngạch đối với số tiền tranh chấp do được nhà nước đền bù đất đối với bà C và bà T9, là: 807.383.000 đồng + 405.451.000 đồng = 1.212.834.000 đồng.
Theo quy định số tiền đối với tài sản tranh chấp có giá trị từ 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng, đương sự phải chịu là: (36.000.000 đồng + 3% số tiền vượt trên 800.000.000 đồng); do đó nguyên đơn ông Nguyễn Vĩnh T, Nguyễn Vĩnh T1 phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, là: [36.000.000 đồng + (412.834.000 đồng x 3%)] = 48.385.020 đồng.
[3.2]. Án phí dân sự phúc thẩm:
[3.2.1]. Do kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn ông Nguyễn Vĩnh T, Nguyễn Vĩnh T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng.
Do nguyên đơn là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, cần áp dụng Điều 2 Luật người cao tuổi và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để chấp nhận.
[3.2.2]. Do kháng cáo được chấp nhận nên bị đơn bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M, ông Nguyễn Hữu H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4]. Về chi phí định giá:
Do yêu cầu không được chấp nhận nên cần sửa và buộc nguyên đơn phải chịu toàn bộ số tiền chi phí qua 3 lần định giá tài sản, là: 3.637.500 + 3.637.500 + 1.258.000 = 8.533.000 đồng, ông Nguyễn Vĩnh T đã nộp đủ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 148; khoản 2 Điều 227; khoản 2, khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 2 Luật người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 3 Điều 26; khoản 1, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Áp dụng khoản 6, khoản 7 Mục I Quyết định 111/CP ngày 14/4/1977 của Hội đồng Chính phủ về việc ban hành chính sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà, đất cho thuê ở các đô thị của các tỉnh phía Nam; khoản 1 Mục I Quyết định 201-CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ; Điều 1 Luật Đất đai năm 1987; khoản 1, khoản 2 Điều 2 Luật Đất đai năm 1993; khoản 2 Điều 10 Luật Đất đai năm 2003; khoản 5 Điều 26 Luật Đất đai 2013; tuyên xử:
- Bác toàn bộ nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Vĩnh T.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn; sửa toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số: 136/2023/DS-ST ngày 16/10/2023 của Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Chấp nhận một phần nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế về xác định lại nghĩa vụ đối với đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với việc tranh chấp tài sản là khoản tiền bà Lương Thị C và Đào Thị Phương T9 được đền bù về đất do giải phóng mặt bằng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Vĩnh T, ông Nguyễn Vĩnh T1 về việc “Đòi lại quyền sử dụng đất cho thuê” đối với bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M; bà Đào Thị Phương T9 và ông Nguyễn Hữu H1 đối với thửa đất số 80 và 81, tờ bản đồ số 23, tổng diện tích 153.9m² tọa lạc tại số A, A N, phường V được trích từ thửa 151, tờ bản đồ số 02 thuộc phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Không chấp nhận yêu cầu của Ông Nguyễn Vĩnh T, Nguyễn Vĩnh T1 về việc đòi được nhận số tiền bồi thường về đất là 1.212.834.000 đồng; đối với bà Lương Thị C, ông Đào Hữu M; bà Đào Thị Phương T9 và ông Nguyễn Hữu H1.
- Về án phí dân sự sơ thẩm và án phí phúc thẩm:
- [6.1]. Ông Nguyễn Vĩnh T và Ông Nguyễn Vĩnh T1 được miễn án toàn bộ phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.
- Do được miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm nên ông Nguyễn Vĩnh T được trả lại số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2013/003191 ngày 30/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế; số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001289 ngày 17/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- [6.2]. Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị đơn không phải chịu:
- Bà Lương Thị C được trả lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001318 ngày 22/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Ông Đào Hữu M được trả lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001319 ngày 22/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Ông Nguyễn Hữu H1 được trả lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001298 ngày 20/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Về chi phí định giá:
- Do yêu cầu không được chấp nhận, buộc nguyên đơn ông Nguyễn Vĩnh T và Nguyễn Vĩnh T1 phải chịu toàn bộ số tiền chi phí định giá là: 8.533.000 đồng, ông T đã nộp đủ.
Các phần khác của Bản án dân sự sơ thẩm số 136/2023/DS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Thanh |
Bản án số 37/2024/DS-PT ngày 14/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp tài sản là quyền sử dụng đất cho thuê
- Số bản án: 37/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tài sản là quyền sử dụng đất cho thuê
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp tài sản là quyền sử dụng đất cho thuê
