Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM TÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23/9/2024

V/v: "Tranh chấp ly hôn".

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đình Khương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Quang Sơn và bà Trà Thị Thanh Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 165/2024/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXX- HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2024/QĐST- HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thu N, sinh năm: 1964. Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)

Bị đơn: Ông Thông Văn Q, sinh năm: 1961. Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Phạm Thị Thu N trình bày: Giữa bà Phạm Thị Thu N và ông Thông Văn Q tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1989 nhưng đến năm 1996 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 31/8/1996. Trong thời gian sống chung, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải nhau về vấn đề tiền bạc, việc phát triển làm ăn kinh tế. Hơn nữa, mỗi lần mâu thuẫn là ông Q dùng lời lẽ thô tục, thiếu văn hóa xúc phạm bà N. Nay bà N nhận thấy không thể sống chung với ông Thông Văn Q được nữa nên bà N đề nghị Tòa án giải quyết cho bà N được ly hôn với ông Thông Văn Q.

Về con chung: Các con chung đều đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Phạm Thị Thu N tự nguyện chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

* Bị đơn là ông Thông Văn Q đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không trình bày ý kiến và cũng không tham gia phiên tòa.

Đại diện VKSND huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng. Đối với đương sự thì nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; Bị đơn là ông Thông Văn Q đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiếp tục xét xử vụ án là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, thấy rằng giữa bà Phạm Thị Thu N và ông Thông Văn Q tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1989 nhưng đến năm 1996 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 31/8/1996. Trong thời gian sống chung, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải nhau về vấn đề tiền bạc, việc phát triển làm ăn kinh tế. Hơn nữa, mỗi lần mâu thuẫn là ông Q dùng lời lẽ thô tục, thiếu văn hóa xúc phạm bà N. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên đề nghị Hội đồng xét xử cần được chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình

Về con chung: Các con chung đều đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy;

[1] Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của tòa án: Hội đồng xét xử thấy rằng đây là tranh chấp ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không có lý do; Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Theo lời trình bày của nguyên đơn cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, xác định giữa bà Phạm Thị Thu N và ông Thông Văn Q tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1989 nhưng đến năm 1996 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 31/8/1996 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3.2]. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Thông Văn Q không trình bày ý kiến và cũng không tham gia tố tụng nên không có cơ sở để xem xét ý kiến, nguyện vọng của bị đơn. Đồng thời, hành vi này của ông Thông Văn Q cũng thể hiện ý chí của bị đơn về việc không muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình nên có cơ sở để xem xét lời khai của nguyên đơn về nguyên nhân làm phát sinh mâu thuẫn vợ chồng.

[3.3]. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với lời trình bày của nguyên đơn, đã xác định: Trong thời gian sống chung, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải nhau về vấn đề tiền bạc, việc phát triển làm ăn kinh tế. Hơn nữa, mỗi lần mâu thuẫn là ông Q dùng lời lẽ thô tục, thiếu văn hóa xúc phạm bà N. Do đó, hành vi của ông Q đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ vợ chồng; làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị Thu N và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

[3.4]. Về con chung: Các con chung đều đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.

[5]. Về chia tài sản và nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về án phí: Bà Phạm Thị Thu N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

-Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thu N.

    Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Thu N được ly hôn với ông Thông Văn Q.

    Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu xem xét, giải quyết.

  2. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí cho bà Phạm Thị Thu N.
  3. Án xử công khai, báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bình Thuận;
  • -VKSND huyện Hàm Tân;
  • -THA dân sự huyện Hàm Tân;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Đình Khương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 37/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thu Nhi. Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Thu Nhi được ly hôn với ông Thông Văn Quy.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger