Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐOAN HÙNG

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày: 18-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Trí Dũng
  2. Ông Nguyễn Hữu Mùi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Lan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2024/TLST-HS, ngày 05 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Trần Ngọc G, sinh ngày 27 tháng 3 năm 1995 tại thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Nơi ĐKHKTT: Tổ H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 10/12; Dân tộc: Cao Lan; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn P, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Tại Quyết định số 333/QĐ-XPHC ngày 26 tháng 11 năm 2014, Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Ngọc G số tiền là 1.250.000. đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chưa nộp phạt (đã hết thời hạn được coi là bị xử lý vi phạm hành chính).
  • Tại Quyết định số 000557/QĐ-XPHC ngày 14 tháng 02 năm 2020, Công an thành phố T đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Ngọc G số tiền là 750.000.đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã nộp phạt ngày 25/3/2020.
  • Tại Bản án số 20/2021/HS-ST ngày 07/7/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xử phạt Trần Ngọc G 01 năm 06 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong ngày 19/3/2022.
  • Ngày 03/4/2024, bị cáo có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Ngày 10/4/2024, Cơ quan CSĐT- Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam trong 01 vụ án hình sự “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Trại tạm giam - Công an tỉnh T. Có mặt

  1. Họ và tên: Tô Văn H1, sinh ngày 15 tháng 4 năm 1974 tại thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Nơi ĐKHKTT: Tổ F, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 3/12; Dân tộc: Cao Lan; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tô Văn Q (Đã chết) và bà Lâm Thị T (Đã chết); Vợ Lương Thị Đ, sinh năm 1975 và có 02 con;

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

  • Ngày 25/8/1992, Công an huyện B, tỉnh Hà Giang khởi tố Tô Văn H1 về tội “Trộm cắp tài sản công dân” (tra cứu và xác minh không có thông tin bản án, không có hồ sơ truy tố và xét xử);
  • Tại Quyết định số 61/QĐ-XPHC ngày 16 tháng 9 năm 1996, Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Tô Văn H1 số tiền là 100.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã nộp phạt ngày 18/9/1996.
  • Tại Bản án số 10/2001/HS-ST ngày 01/11/2001, Tòa án Quân sự Quân khu 2 xử phạt Tô Văn H1 10 năm tù về tội “Chiếm đoạt, tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ”, ngày 02/02/2005 chấp hành xong (đặc xá tha tù trước thời hạn); phần thi hành án dân sự, đã chấp hành xong ngày 22/4/2003.
  • Tại Quyết định số 0013381/QĐ-XPHC ngày 06 tháng 3 năm 2006, Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Tô Văn H1 số tiền là 1000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép. Bị cáo chưa nộp phạt (đã hết thời hạn được coi là bị xử lý vi phạm hành chính).
  • Tại Bản án số 76/2015/HS-ST ngày 17/9/2015,Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Tô Văn H1 05 tháng tù giam về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt ngày 12/02/2016; phần thi hành án dân sự, đã chấp hành xong ngày 07/01/2016.
  • Tại Quyết định số 155/QĐ-XPHC ngày 09 tháng 9 năm 2016, Công an huyện Đ, tỉnh Phú Thọ đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Tô Văn H1 số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã nộp phạt ngày 15/9/2016.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

Bị hại:

  1. Ông Lê Đình V, sinh năm 1967; nơi cư trú: Khu E, xã Y, huyện Đ tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt
  2. Chị Phan Thị Kim O, sinh năm 1974; nơi cư trú: Khu E, xã V, huyện Đ tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt
  3. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1986; nơi cư trú: Khu H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 02/4/2024, Trần Ngọc G, sinh năm 1995 ở phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius, màu đen, biển kiểm soát 22B2-369.14 của G đến nhà Tô Văn H1, sinh năm 1974 cũng ở phường Đ chơi. Sau đó, G rủ H1 cùng đi trộm cắp chó, H1 đồng ý và chuẩn bị công cụ gồm 01 súng tự chế bằng gỗ có gắn mũi tên đấu nối với bình ắc quy tích điện bằng dây điện; 01 cuộn băng dính màu đen; 01 kìm bằng kim loại, tay nắm màu vàng đen. G lấy một bao tải xác rắn màu cam có sẵn tại nhà Hữu. Sau đó, G điều khiển xe mô tô của mình chở H1 ngồi phía sau đem theo các công cụ đã chuẩn bị đến huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, cả hai bị cáo đã trộm cắp được 03 con chó, cụ thể:

Khoảng 22 giờ ngày 02/4/2024, G và H1 đi đến địa phận xã Y, huyện Đ, phát hiện có 01 con chó giống cái, lông màu vàng, khối lượng 19kg của gia đình ông Lê Đình V, sinh năm 1967 thuộc khu E, xã Y, tại vị trí ven đường bê tông liên khu trước cửa nhà ông V. G điều khiển xe áp sát vị trí của con chó, H1 ngồi phía sau dùng súng bắn điện bắn vào con chó làm con chó bị tê liệt. Sau đó G dừng xe, H1 dùng băng dính đen cuốn nhiều vòng quanh mõm con chó rồi cho vào bao tải xác rắn, để ở vị trí để hàng phía trước của xe mô tô.

Khoảng hơn 22 giờ cùng ngày, G và H1 đến xã V, huyện Đ. Với phương thức thực hiện hành vi như trên, cả hai trộm cắp được 01 con chó giống cái, lông màu vàng, khối lượng 16,5kg của gia đình chị Phan Thị Kim O, sinh năm 1974, thuộc khu E, xã V tại vị trí đường liên xã trước cửa nhà chị O.

Khoảng 23 giờ cùng ngày, G và H1 tiếp tục đến thị trấn Đ trộm cắp 01 con chó giống đực, lông màu vàng, khối lượng 14,5kg của gia đình chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1986 ở khu T, thị trấn Đ tại vị trí đường chiến thắng S trước cửa nhà chị L.

Sau khi trộm cắp được 03 con chó, G điều khiển xe mô tô chở H1 mang chó về huyện S, tỉnh Tuyên Quang mục đích để bán cho anh Long Thái B, sinh năm 1981, ở thôn C, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Trên đường đi tiêu thụ, G bị Công an huyện S lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình xác minh, G và H1 khai nhận đã cùng nhau trộm cắp chó tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang đã chuyển tin báo vụ trộm cắp tài sản cùng hồ sơ, vật chứng có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan điều tra-Công an huyện Đ đã tiếp nhận hồ sơ, vật chứng liên quan gồm: 01 kìm bằng kim loại, có tay nắm màu vàng, đen; 01 súng tự chế bằng gỗ có gắn mũi tến; 01 bao tải dứa màu cam bên trong có 03 con chó (Theo biên bản giao nhận, đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 03/4/2024). Sau khi tiếp nhận, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Đ đã yêu cầu định giá đối với 03 con chó có đặc điểm như đã nêu trên để xác định giá trị tài sản bị trộm cắp. Tại kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 26/4/2024, Hội đồng định giá tài sản huyện Đ xác định:

01 (một) con chó cái, lông màu vàng, khối lượng 16,5kg, trị giá 1.155.000đ; 01 (một) con chó cái, lông màu vàng, khối lượng 19kg, trị giá 1.330.000đ và 01 (một) con chó đực, lông màu vàng, khối lượng 14,5kg, trị giá 1.015.000đ. Tổng trị giá của 03 con chó là 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ, các bị cáo Trần Ngọc G và Tô Văn H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai các bị hại về thời gian, địa điểm, đặc điểm tài sản bị trộm cắp.

Tại bản cáo trạng số: 33/CT-VKSĐH ngày 02/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ đã truy tố các bị cáo Trần Ngọc G và Tô Văn H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố các bị cáo Trần Ngọc G, Tô Văn H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản".

  • + Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Ngọc G từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành Bản án.
  • + Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tô Văn H1 từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Tô Văn H1 cho UBND phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự - Công an Thành phố T, tỉnh Tuyên Quang nhận được quyết định thi hành án.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo H1, buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Trần Ngọc G, Tô Văn H1.

  • + Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không có yêu cầu bồi thường nên không phải giải quyết.
  • + Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 1, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã trả lại các tài sản bị trộm cắp cho các bị hại: Trả lại chị Nguyễn Thị L 01 con chó giống đực, lông màu vàng, trọng lượng 14,5kg (đã chết); trả lại cho chị Phan Thị Kim O 01con chó giống cái, lông màu vàng, trọng lượng 16,5kg (đã chết); trả lại cho ông Lê Đình V 01 con chó giống cái, lông màu vàng, trọng lượng 19kg (đã chết).

- Tịch thu tiêu hủy: 01 súng bắn tự chế bằng gỗ dài 26cm, rộng 2,9cm, phần báng súng dài 6,5cm, rộng 1,7cm; phần mũi tên bằng gỗ dài 45,8cm, đường kính 1,2cm, phần mũi nhọn bằng kim loại dài 07cm, phần mũi tên có dây điện màu đen được đấu nối với 01 bình ắc quy kích điện có kích thước 13x16,5x7cm; 01 kìm bằng kim loại dài 16,3cm, phần chuôi bằng nhựa màu vàng, đen dài 10,3cm; 01 bao tải xác rắn màu cam bên ngoài bao tải có in nhiều chữ nước ngoài màu đen.

+ Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trần Ngọc G, Tô văn H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không tranh luận, không bào chữa, thừa nhận và ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Về tố tụng hình sự: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Cơ quan điều tra - Công an huyện Đ; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
  2. [2]. Về căn cứ buộc tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ, nên có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ 22 giờ đến 23 giờ ngày 02/4/2024, tại địa bàn huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, Trần Ngọc G sinh năm 1995 và Tô Văn Hữu sinh năm 1974, đều ở phường Đ, TP ., tỉnh Tuyên Quang đã lén lút cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp 03 con chó. Cụ thể: Trộm cắp của ông Lê Đình V ở xã Y, huyện Đ 01 con chó giống cái, lông màu vàng, khối lượng 19kg, trị giá 1.330.000 đồng; trộm cắp của chị Phan Thị Kim O ở xã V, huyện Đ 01 con chó giống cái, lông màu vàng, khối lượng 16,5kg, trị giá 1.155.000 đồng và trộm cắp của chị Nguyễn Thị L ở khu T, thị trấn Đ, huyện Đ 01 con chó giống đực, lông màu vàng, khối lượng 14,5kg, trị giá 1.015.000 đồng.

Hành vi trộm cắp tài sản có tổng trị giá tài sản là 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng) được thực hiện liên tục, kế tiếp về mặt thời gian của các bị cáo Trần Ngọc G và Tô Văn H1 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định:

“Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Do vậy, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng đối với các bị cáo Trần Ngọc G và Tô Văn H1 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  1. [3]. Về tính chất của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo tuy thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc từ trước nhưng đã xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất ổn định tình hình trị an và lo lắng cho người dân. Các bị cáo đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái quy định pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Do vậy, cần phải xử lý trước pháp luật đối với các bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung tội phạm.
  2. [4]. Về nhân thân: Các bị cáo Trần Ngọc G và Tô Văn H1 đều đã bị cơ quan nhà nước xử lý vi phạm hành chính, bị Tòa án xét xử hình sự về hành vi phạm tội nhưng đã hết thời hạn, thời hiệu nên được coi là không có tiền án, tiền sự. Bị cáo Trần Ngọc G đang bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 2 Bộ luật hình sự, vụ án đang được Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang thụ lý giải quyết, bị cáo G đang bị tạm giam. Bị cáo Tô Văn H1 có nơi cư trú rõ ràng.
  3. [5]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Ngọc G, Tô Văn H1 đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Trần Ngọc G, Tô Văn H1 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo Tô Văn H1 là người dân tộc có trình độ học vấn thấp, hiểu biết pháp luật còn hạn chế; trong quá trình sing sống tại địa phương bị cáo và gia đình đã tích cực tham gia đóng góp xây dựng quê hương như hiến đất làm đường, tích cực cùng địa phương phòng chống lụt bão được địa phương xác nhận nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Trong vụ án này, bị cáo Trần Ngọc G là người khởi xướng nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với bị cáo Tô Văn H1.

Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, trên cơ sở để phục vụ công tác đấu tranh chống, phòng ngừa chung tội phạm và tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là áp dụng hình phạt tù giam đối với bị G, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo H1 với mức đủ để các bị cáo tỉnh ngộ, sớm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

  1. [6]. Về khấu trừ thu nhập: Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật hình sự, thì trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung công quỹ Nhà nước. Căn cứ kết quả xác minh, lời trình bày của bị cáo Tô Văn H1 tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, việc làm và thu nhập không ổn định. Do vậy, cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo, buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
  2. [7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, kết quả xác minh cho thấy các bị cáo Trần Ngọc G và Tô Văn H1 đều không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  3. [8]. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản mà các bị cáo trộm cắp, các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì nên không phải giải quyết.
  4. [9]. Về xử lý vật chứng:
  • - Đối với 03 cá thể chó được miêu tả cụ thể như trong biên bản giao nhận tài liệu, vật chứng, Cơ quan điều tra- Công an huyện Đ đã trả lại cho các bị hại là hợp pháp cần được xác nhận.
  • - Đối các vật chứng hiện đang tạm giữ gồm: 01 súng bắn tự chế bằng gỗ dài 26cm, rộng 2,9cm, phần báng súng dài 6,5cm, rộng 1,7cm; phần mũi tên bằng gỗ dài 45,8cm, đường kính 1,2cm, phần mũi nhọn bằng kim loại dài 07cm, phần mũi tên có dây điện màu đen được đấu nối với 01 bình ắc quy kích điện có kích thước 13x16,5x7cm; 01 kìm bằng kim loại dài 16,3cm, phần chuôi bằng nhựa màu vàng, đen dài 10,3cm; 01 bao tải xác rắn màu cam bên ngoài bao tải có in nhiều chữ nước ngoài màu đen là công cụ phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius, màu sơn đen, kiểm kiểm soát 22B2-36914 gắn biển số 19E1-372.74 của bị cáo Trần Ngọc G là phương tiện bị cáo G sử dụng để đi trộm cắp tài sản nhưng hiện đang bị tạm giữ và là vật chứng trong vụ án khác, Vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đối với bị cáo Trần Ngọc G. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng không xem xét xử lý trong vụ án này.
  1. [10]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Trần Ngọc G, Tô Văn H1 phải nộp theo quy định của pháp luật.
  2. [11]. Các nội dung khác trong vụ án: Đối với anh Long Thái B, không biết và không hứa hẹn tiêu thụ chó cho Trần Ngọc G và Tô Văn H1 nên không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Trần Ngọc G.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với Tô Văn H1.

Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 1, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Ngọc G và Tô Văn H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt:
    • - Xử phạt bị cáo Trần Ngọc G 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành Bản án.
    • - Xử phạt bị cáo Tô Văn H1 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Tô Văn H1 cho UBND phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự - Công an Thành phố T, tỉnh Tuyên Quang nhận được quyết định thi hành án.

    Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo H1, buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

    Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

    Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự

    Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không có yêu cầu bồi thường nên không phải giải quyết.
  4. Về xử lý vật chứng:
    • - Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã trả lại các tài sản bị trộm cắp cho các bị hại: Trả lại chị Nguyễn Thị L 01 con chó giống đực, lông màu vàng, trọng lượng 14,5kg (đã chết); trả lại cho chị Phan Thị Kim O 01con chó giống cái, lông màu vàng, trọng lượng 16,5kg (đã chết); trả lại cho ông Lê Đình V 01 con chó giống cái, lông màu vàng, trọng lượng 19kg (đã chết).
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 súng bắn tự chế bằng gỗ dài 26cm, rộng 2,9cm, phần báng súng dài 6,5cm, rộng 1,7cm; phần mũi tên bằng gỗ dài 45,8cm, đường kính 1,2cm, phần mũi nhọn bằng kim loại dài 07cm, phần mũi tên có dây điện màu đen được đấu nối với 01 bình ắc quy kích điện có kích thước 13x16,5x7cm; 01 kìm bằng kim loại dài 16,3cm, phần chuôi bằng nhựa màu vàng, đen dài 10,3cm; 01 bao tải xác rắn màu cam bên ngoài bao tải có in nhiều chữ nước ngoài màu đen. (Toàn bộ vật chứng được miêu tả cụ thể theo quyết định chuyển vật chứng, ngày 02/8/2024; Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng, ngày 05/8/2024).
  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Trần Ngọc G, Tô Văn H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - VKS ND tỉnh Phú Thọ;
  • - -VKS ND huyện Đoan Hùng;
  • - Công an huyện Đoan Hùng;
  • - Chi cục THADS huyện Đoan Hùng;
  • - Trại Tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang
  • - UBNDphườngĐội Cấn, TP Tuyên Quang;
  • - Lưu HSVA; VP

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger