TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 37/2024/DS-ST Ngày: 29 - 8 - 2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Văn Lẫm
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hoàng Liêm.
Ông Danh Lươl.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mỹ Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Trong ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 55/2024/TLST-DS, ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST - DS, ngày 01 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lâm Văn T, sinh năm: 1969.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T1.
Địa chỉ: Ấp B, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
Bà Nguyễn Ngọc D, sinh năm: 1982.
Cùng địa chỉ: Ấp F, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Bà D có mặt, ông T1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 16/4/2024 quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lâm Văn T trình bày: Vào ngày 14/12/2023 ông có bán cho ông Nguyễn Thanh T1 và vợ là Nguyễn Ngọc D 1.054 kg lục bình khô, giá mỗi kg là 17.000 đồng, thành tiền là 17.918.000 đồng, ông T1 và bà D hẹn 01 tuần sau sẽ thanh toán số tiền trên cho ông nhưng đến thời điểm thanh toán ông T1 và bà D vẫn chưa thanh toán cho ông. Nay ông yêu cầu ông T1, bà D trả cho ông số tiền mua lục bình khô còn nợ là 17.918.000 đồng và tính lãi suất theo quy định từ ngày 14/12/2023 đến nay.
Tại văn bản ngày 24/6/2024, biên bản hoà giải ngày 24/6/2024 và tại phiên toà bị đơn bà Nguyễn Ngọc D trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Thanh T1, cơ sở thu mua lục bình do ông T1 đứng tên. Vào ngày 14/12/2023 bà có mua của ông Lâm Văn T 1.054kg lục bình khô, giá mỗi kg là 17.000 đồng, thành tiền là 17.918.000 đồng, bà có ký tên vào hoá đơn bán lẻ cho ông T. Bà có hẹn với ông T 01 tuần sau sẽ thanh toán nhưng do lục bình của ông T bị mục nên không bán được. Tại phiên toà bà đồng ý trả số tiền còn nợ ông T là 17.918.000 đồng, không đồng ý trả lãi suất theo yêu cầu của ông T.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên chưa có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của ông T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông Nguyễn Thanh T1.
[2] Về quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng mua bán theo quy định tại Điều 26, 35 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[3] Nội dung vụ án:
Vào ngày 14/12/2023 ông Lâm Văn T có bán cho ông Nguyễn Thanh T1, bà Nguyễn Ngọc D 1.054kg lục bình khô giá mỗi kg là 17.000 đồng, thành tiền là 17.918.000 đồng, ông Tú B Diễm hẹn 01 tuần sau ngày 14/12/2023 sẽ thanh toán nhưng đến nay vẫn chưa thanh toán. Do đó ông T yêu cầu ông T1, bà D trả cho ông số tiền 17.918.000 đồng và lãi suất theo quy định. Bị đơn bà Nguyễn Ngọc D thừa nhận có mua của ông T 1.054kg lục bình khô và còn nợ số tiền 17.918.000 đồng, bà đồng ý trả cho ông T số tiền 17.918.000 đồng, không đồng ý trả lãi suất theo yêu cầu của ông T, còn ông T1 vắng mặt nên chưa có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của ông T.
[4] Qua thẩm vấn công khai tại phiên tòa cùng các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Vào ngày 14/12/2023 ông Lâm Văn T có bán cho bà Nguyễn Ngọc D 1.054kg lục bình khô giá mỗi kg là 17.000 đồng, thành tiền là 17.918.000 đồng, việc mua bán bà D có xuất hoá đơn bán lẻ cho ông T, bà D có hẹn 01 tuần sau ngày 14/12/2023 sẽ thanh toán tiền cho ông T. Tại văn bản ngày 24/6/2024, biên bản hoà giải ngày 24/6/2024 và tại phiên toà bà D thừa nhận còn nợ ông T số tiền 17.918.000 đồng và đồng ý trả cho ông T số tiền trên. Bà D thừa nhận còn nợ số tiền 17.918.000 đồng và đồng ý trả cho ông T nên ông T không phải chứng minh.
[5] Đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nhưng tại biên bản hoà giải ngày 24/6/2024 bà D trình bày bà là vợ ông Nguyễn Thanh T1, cơ sở thu mua lục bình do ông T1 đứng tên. Theo hoá đơn bán lẻ ngày 14/12/2023 thì hoá đơn bán lẻ do ông Nguyễn Thanh T1 đứng tên tại ấp E, xã V, huyện L tỉnh Hậu Giang có mã số thuế 6300336298. Ngày 17/7/2024 Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có đến nhà ông T1 để ghi lời khai của ông T1 về yêu cầu khởi kiện của ông T cũng như cơ sở chuyên sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ đan lục bình Nguyễn Thanh T1 có phải của ông T1 hay không và ông Nguyễn Thanh T1 có phải là chồng của bà Nguyễn Ngọc D hay không nhưng ông T1 vắng mặt nên không ghi được lời khai của ông T1. Tuy nhiên căn cứ vào lời trình bày của bà Nguyễn Ngọc D tại biên bản hoà giải ngày 24/6/2024 và tại phiên toà bà D trình bày bà là vợ ông T1, cơ sở thu mua lục bình do ông T1 đứng tên và hoá đơn bán lẻ còn nợ ông Lâm Văn T số tiền 17.918.000 đồng nên Hội đồng xét xử buộc ông Nguyễn Thanh T1 và bà Nguyễn Ngọc D có nghĩa vụ trả cho ông Lâm Văn T số tiền 17.918.000 đồng.
[6] Về yêu cầu tính lãi suất: Theo quy định tại khoản 3 Điều 440 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Trường hợp bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật này”. Ông Tú bà D không thực hiện đúng nghĩa vụ nên ông T yêu cầu tính lãi của số tiền 17.918.000 đồng tính từ ngày 14/12/2023 là có căn cứ.
[7] Về lãi suất: Theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thoả thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thoả thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này”. Ông T1, bà D không thanh toán đúng hạn và không xác định lãi suất là bao nhiêu nên Hội đồng xét xử áp dụng mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 là 10%/năm, tương đương 0,83%/tháng.
[8] Hoá đơn bán lẻ ngày 14/12/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 29/8/2024 là 08 tháng 15 ngày: 17.918.000 đồng x 0,83%/tháng x 08 tháng 15 ngày = 1.264.111 đồng
[9] Như vậy số tiền nợ 17.918.000 đồng ông Tú bà D1 phải chịu lãi suất là 1.264.111 đồng, tổng cộng là 19.182.111 đồng.
[10] Về án phí dân sự: Ông Nguyễn Thanh T1, bà Nguyễn Ngọc D phải chịu theo quy định.
[11] Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, Điều 35, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ: Điều 430, 431, 440, 468, 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lâm Văn T về việc yêu cầu ông Nguyễn Thanh T1, bà Nguyễn Ngọc D trả số tiền mua lục bình còn nợ là 19.182.111 đồng.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh T1, bà Nguyễn Ngọc D có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn ông Lâm Văn T số tiền 19.182.111 đồng (mười chín triệu một trăm tám mươi hai nghìn một trăm mười một nghìn đồng).
Kể từ ngày ông ông Lâm Văn T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án. Lãi suất chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468, nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí dân sự: Ông Nguyễn Thanh T1, bà Nguyễn Ngọc D phải chịu 959.105 đồng (chín trăm năm mươi chín nghìn một trăm lẻ năm đồng).
Nguyên đơn ông Lâm Văn T được nhận lại 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010068 phiếu lập ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn ông Lâm Văn T, bị đơn bà Nguyễn Ngọc D có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 29/8/2024. Bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Lẫm |
Bản án số 37/2024/DS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng mua bán
- Số bản án: 37/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông t yêu cầu ông t trả tiền
