Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG PHÚ

TỈNH BÌNH PHƯỚC

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

***

Bản án số: 37/2024/DS-ST

Ngày: 06 - 8 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp QSDĐ”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Phong
  2. Ông Hoàng Văn Tư

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hường – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng phú xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXX - DS ngày 18/7/2024 của TAND huyện Đồng Phú giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H.

Địa chỉ: Số B B, đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T- Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông T:

Ông Nguyễn Tùng C - Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H- chi nhánh B1- Phòng G.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông C:

Anh Kiều Cao L, sinh năm 1992 (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước

- Bị đơn: Anh Đàm Đình D, sinh năm 1993 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Phương S, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1953 (Có yêu cầu vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Tổ F, khu phố C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện ngày 20/02/2024, trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, anh Kiều Cao L trình bày:

Ngân hàng TMCP P và anh Đàm Đình D vay số tiền 1.200.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 10526/22MN/HĐTD ngày 24/03/2022, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất vay 16%/năm, mục đích vay là bổ sung vốn trồng trọt; 01 Tài khoản thẻ tín dụng số [...] ký ngày 06/10/2023, số tiền vay 50.000.000đ, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất vay 27%/năm, thời hạn vay 10/02/2024, anh D đã rút số tiền 47.000.000đ.

Tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng, anh D có thế chấp cho Ngân hàng thửa đất số 259, tờ bản đồ số 15 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 423289, số vào sổ cấp GCN: 07359 QSDĐ/1432/QĐ-UBND tỉnh ( 31/01/2015) do UBND tỉnh B cấp ngày 12/08/2002; Điều chỉnh ngày 25/05/2005: Phòng nông nghiệp – Địa chính điều chỉnh biến động theo QĐ số 3055/QĐ-UB ngày 05/12/2000 của UBND (T). DTSD hiện còn 206.5 TĐ Thổ cư 206.5m²; Điều chỉnh ngày 15/03/2022: Chuyển nhượng cho anh D, sinh năm 1993, CMND số [...]. Địa chỉ xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, theo hồ sơ số 220309-0061. Trước khi 2 bên làm hợp đồng thế chấp thì Ngân hàng có tiến hành thẩm định đối với tài sản thế chấp và xác định thửa đất số 259, tờ bản đồ số 15 không có ai tranh chấp, tuy nhiên có ông S, bà T1 đang sinh sống trên đất, anh D xác định ông S và bà T1 ở nhờ.

Do anh D vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi đến hạn như đã thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết nên nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Toà án những vấn đề sau:

  • - Buộc anh D phải thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H theo hợp đồng tín dụng đã ký kết ngày 24/3/2022 với tổng số tiền tạm tính đến ngày 06/8/2024 là 1.383.746.731đ trong đó, nợ gốc: 1.200.000.000đ, Lãi trong hạn: 87.659.177đ; Lãi quá hạn: 96.087.554đ.
  • - Buộc anh D phải thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H theo đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 06/10/2023 với tổng số tiền tạm tính đến ngày 06/8/2024 là 66.828.458đ (trong đó, nợ gốc: 47.000.000đ, T2 lãi: 10.636.250 và tiền phí duy trì thẻ: 9.034.634đ.
  • - Buộc anh D phải thanh toán phần nợ lãi phát sinh, lãi thẻ tín dụng, phí thẻ tín dụng phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ, giấy đề nghị mở thẻ tín dụng đã ký kết với H cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
  • - Trường hợp anh D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Thửa đất số 259; tờ bản đồ số 15, thôn K, phường T, thị xã Đ, tỉnh Bình Phước theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ số 9756/22MN/HĐBĐ ngày 24/03/2022 Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H yêu cầu được đảm bảo Thi hành án. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản đảm bảo được dùng để cấn trừ nghĩa vụ trả nợ của anh D đối với Ngân hàng. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ của anh D vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.

* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn Đàm Đình D trình bày :

Ngày 24/3/2023, anh D có ký kết hợp đồng tín dụng số 526/22MN/HĐTD tại Ngân hàng H1, số tiền vay là 1.200.000.000đ, thời hạn vay đến ngày 24/3/2024, có thoả thuận lãi suất theo hợp đồng là 16%/tháng, tiền lãi phải trả hàng tháng. Tại thời điểm vay, anh D có thế chấp thửa đất số 259, tờ bản đồ số 15, đất toạ lạc tại khu phố T, thành phố Đ, thửa đất đã được cấp GCNQSDĐ mang tên Đàm Đình D.

Ngoài ra, anh D có đăng ký 01 Tài khoản thẻ tín dụng số [...] ngày 06/10/2023, số tiền vay 50.000.000đ, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất vay 27%/tháng, thời hạn vay 10/02/2024.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, do khó khăn về kinh tế nên anh D vi phạm việc đóng lãi theo thoả thuận.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh D phải trả tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 20/02/2024 với số tiền 1.383.746.731đ (trong đó, nợ gốc: 1.200.000.000đ, Lãi trong hạn: 87.659.177đ; Lãi quá hạn: 96.087.554đ) và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là thửa đất số 259, tờ bản đồ số 15, đất toạ lạc tại khu phố C, phường T, thành phố Đ thì anh D đồng ý.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Phương S và Nguyễn Thị T1 trình bày:

Thửa đất số 259, tờ bản đồ số 15, diện tích 213m2 toạ lạc tại khu phố T, phường T (nay là tổ F, khu phố C, phường T) có nguồn gốc là do vợ chồng ông S, bà T1 nhận chuyển nhượng của ông L1 (không xác định được thông tin cụ thể) vào năm 1995 với giá là 7 chỉ vàng; đến ngày 12/8/2002 thửa đất đã được cấp GCNQSDĐ số S 423289, số vào sổ cấp GCN 07359 QSDĐ/1432/QĐ-UBND tỉnh. Năm 1997, vợ chồng ông S có xây tạm 1 phòng ở, đến năm 2017 và năm 2019, vợ chồng ông S tiếp tục cải tạo căn nhà trên. Từ thời điểm nhận chuyển nhượng đến nay, vợ chồng ông S là người trực tiếp tạo lập, quản lý, sử dụng thửa đất và toàn bộ tài sản trên đất, không có tranh chấp với ai, cũng không chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp để vay vốn ngân hàng.

Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng H1 liên quan đến việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ thì vợ chồng ông S, bà T1 không đồng ý,; ông S, bà T1 yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng phú tham gia phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự đối với vấn đề trả tiền gốc và tiền lãi của số tiền 1.200.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng.

Đối với số tiền 50.000.000 đồng trong tài khoản thẻ, lãi suất các bên thỏa thuận là 27%/năm. Xét thấy, mức lãi suất thẻ này vượt quá 20%/năm theo quy định của BLDS nên chỉ chấp nhận đối với mức lãi suất 20%/năm, không chấp nhận đối với phần lãi 7% vượt quá.

Căn cứ Điều 298, 299, 318 Bộ luật dân sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đối với yêu cầu xử lý nợ của ngân hàng đối với thửa đất đã được thế chấp nếu anh D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng H1 để khởi kiện yêu cầu anh D có trách nhiệm trả lại số tiền đã vay và xử lý tài sản thế chấp, anh D hiện cư trú tại xã T, huyện Đ nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là Tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh chấp hợp đồng thế chấp tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Ông Nguyễn Phương S, bà Nguyễn Thị T1 đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà và có yêu cầu vắng mặt; căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử tiếp tục đưa vụ án ra xét xử.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc yêu cầu anh Đàm Đình D thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc:

Ngân hàng TMCP P và anh Đàm Đình D ký ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số 10526/22MN/HĐTD ngày 24/03/2022, theo hợp đồng anh D vay vốn ngân hàng số tiền 1.200.000.000đ, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất vay 16%/năm, mục đích vay là bổ sung vốn trồng trọt.

Ngày 06/10/2023, anh D đăng ký 01 tài khoản thẻ tín dụng số [...] nhằm mục đích vay số tiền 50.000.000đ, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất vay 27%/năm, thời hạn vay 10/02/2024, anh D đã rút số tiền 47.000.000đ.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, anh D thống nhất đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nên đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, anh D đã không thực hiện đúng việc thanh toán tiền lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng, vi phạm điều khoản các bên tự thoả thuận trong hợp đồng tín dụng số 10526/22MN/HĐTD và khế ước nhận nợ số 10526/22MN/HĐTD/KUNN02 ngày 28/3/2023 và Giấy đề nghị mở thẻ tín dụng ngày 06/10/2023. Do anh D vi phạm về việc thực hiện nghĩa vụ theo thoả thuận nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh D có trách nhiệm thanh toán khoản vay gốc theo hợp đồng tín dụng số 10526/22MN/HĐTD số tiền 1.200.000.000đ và số tiền vay theo tài khoản thẻ tín dụng là 47.000.000đ, anh D thống nhất đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.2] Đối với yêu cầu trả tiền lãi:

Đối với hợp đồng tín dụng: Từ thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng đến nay anh D chỉ thanh toán cho Ngân hàng tiền lãi tính đến ngày 27/9/2023. Từ thời điểm ngày 28/9/2023 đến nay, anh D không thanh toán tiền lãi cho Ngân hàng, do đó, cần buộc anh D có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng tiền lãi theo thoả thuận, cụ thể:

  • Đối với tiền lãi trong hạn:
  • Tổng số ngày vi phạm tính là 91 ngày, lãi suất 14,9%/năm, thành tiền là: 1.200.000.000đ x 91 ngày x 14,9%/năm = 44.577.533đ.
  • Tổng số ngày vi phạm tính từ là 91 ngày với mức lãi suất 14,4%/năm, thành tiền là: 1.200.000.000đ x 91 ngày x 14,4%/năm = 43.081.644đ.
  • Đối với tiền lãi quá hạn gốc: Tổng số ngày vi phạm tính từ ngày 28/3/2024 đến ngày 06/8/2024 là 131 ngày, lãi suất 21,15%/năm, thành tiền: 1.200.000.000đ x 131 ngày x 21,15%/năm = 91.089.863đ.
  • Đối với tiền lãi chậm trả lãi: Tổng số ngày vi phạm tính đến ngày 06/8/2024 là 332 ngày, lãi suất 10%/năm, thành tiền 5.199.884đ
  • - Đối với khoản vay thẻ tín dụng: Ngân hàng yêu cầu anh D có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền lãi là 10.636.250đ, tiền phí duy trì thẻ: 9.034.634đ, anh D đồng ý đối với yêu cầu của Ngân hàng nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Tổng số tiền anh D có trách nhiệm trả cho Ngân hàng là 1.450.417.615đ trong đó theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết là 1.383.746.731đ (tiền gốc 1.200.000.000đ, tiền lãi trong hạn 87.659.177đ, tiền lãi quá hạn 96.087.544đ) và số tiền anh D có trách nhiệm trả cho Ngân hàng theo khoản vay thẻ tín dụng là 66.828.458đ (tiền gốc là 47.000.000đ, tiền lãi là 10.636.250đ, tiền phí duy trì thẻ là 9.034.634đ).

[2.3] Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng:

Để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ, Ngân hàng và anh D có ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 24/3/2022 tai Văn phòng C1, tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 259, tờ bản đồ số 15 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 423289, số vào sổ cấp GCN: 07359 QSDĐ/1432/QĐ-UBND tỉnh ( 31/01/2015) do UBND tỉnh B cấp ngày 12/08/2002; Ngày 25/05/2005, Phòng nông nghiệp – Địa chính điều chỉnh biến động theo QĐ số 3055/QĐ-UB ngày 05/12/2000 của UBND (T). DTSD hiện còn 206.5 TĐ Thổ cư 206.5m²; Ngày 15/03/2022 Chi nhánh VPĐKĐĐ thành phố Đ đã tiến hành điều chỉnh biến động thửa đất đứng tên anh Đàm Đình D.

Tại thời điểm ký hợp đồng thế chấp, các bên tham gia ký kết hợp đồng đều đủ năng lực hành vi dân sự, việc giao kết hợp đồng xuất phát từ ý chí tự nguyện của các bên, không bị ép buộc; mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Về hình thức, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 259, tờ bản đồ số 15 đã được công chứng tại Văn phòng C1 và đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ, tỉnh Bình Phước ngày 24/3/2022 là đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, hợp đồng thế chấp có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại hợp đồng.

Do đó, trường hợp anh D không thanh toán nợ được cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản là quyền sử dụng đất trên để đảm bảo thu hồi nợ là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.4] Quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ thể hiện:

Ngày 3/3/2022, ông S, bà T1, anh M và anh B (con của ông S) đã ký kết hợp đồng uỷ quyền với bên nhận uỷ quyền là anh Nguyễn Anh T3 (con của ông S) đối với thửa đất số 259, tờ bản đồ số 15 tại Văn phòng công chứng (VPCC) Nguyễn Lê L2, nội dung uỷ quyền: Anh T3 có quyền thay mặt ông S, bà T1, anh M và anh B “...chuyển nhượng (một phần hoặc toàn bộ) thửa đất...”. Căn cứ vào hợp đồng uỷ quyền trên, ngày 03/3/2022, anh T3 đã ký kết hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 259, tờ bản đồ số 15 với anh Đàm Đình D tại VPCC Nguyễn Lê L2. Đến ngày 15/03/2022 Chi nhánh VPĐKĐĐ thành phố Đồng Xoài đã tiến hành điều chỉnh biến động thửa đất đứng tên anh Đàm Đình D.

Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 03/5/2024 thể hiện: Trên thửa đất số 259, tờ bản đồ số 15, đất toạ lạc tại khu phố C, phường T, thành phố Đ có 01 căn nhà cấp 4 do ông Nguyễn Phương S, bà Nguyễn Thị T1 trực tiếp quản lý, sử dụng. Ông S và bà T1 xác định thửa đất số 259, tờ bản đồ số 15 và toàn bộ tài sản trên đất là của ông bà nhận chuyển nhượng từ năm 1995, ông bà sử dụng ổn định và không chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp để vay vốn đối với thửa đất trên. Toà án có thông báo cho ông S, bà T1 làm đơn yêu cầu độc lập trong vụ án để Toà án xem xét đối với các hợp đồng uỷ quyền, chuyển nhượng đối với thửa đất số 259, tờ bản đồ số 15 được ký kết tại VPCC Nguyễn Lê L2, tuy nhiên đến thời điểm mở phiên toà, Toà án không nhận được Đơn yêu cầu của ông S, bà T1 yêu cầu xem xét về hiệu lực của Hợp đồng uỷ quyền được ký kết giữa ông S, bà T1, anh M, anh B và anh T3; hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa anh T3 và anh D được ký kết ngày 03/3/2022 tại VPCC Nguyễn Lê L2 nên Toà án không xem xét.

[3] Về chi phí tố tụng: Anh Đàm Đình D phải chịu 3.000.000đ (Ba triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Do Ngân hàng đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng tại Toà án nên anh D có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng).

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được Hội đồng xét xử chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; anh Đàm Đình D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với số tiền 55.512.528đ.

[5] Về ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tại phiên tòa về việc đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thoả thuận giữa Ngân hàng và anh Đàm Dình D1 về việc anh D1 đồng ý thanh toán khoản vay cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng, khoản vay thẻ tín dụng và xử lý tài sản thế chấp là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với mức lãi suất áp dụng đối với khoản vay thẻ tín dụng, đề nghị Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận đối với mức lãi suất 20%/năm, không chấp nhận đối với phần lãi 7% vượt quá: Đối với trường hợp sử dụng thẻ tín dụng, mức lãi suất thuộc sự điều chỉnh của Luật các tổ chức tín dụng 2010. Theo quy định, tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng. Do đó, lãi suất với các khoản vay thẻ tín dụng không bị khống chế mức lãi suất là 20%/năm theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 317, 318, 319, 463, 466 của Bộ luật dân sự 2015;

Áp dụng Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 167 của Luật đất đai năm 2013;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q:

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H.
  2. Ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự về việc anh Đàm Đình D có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H tổng số tiền 1.450.417.615đ (Một tỷ bốn trăm năm mươi triệu bốn trăm mười bảy nghìn sáu trăm mười lăm đồng) trong đó tiền gốc là 1.247.000.000đ (Một tỷ hai trăm bốn mươi bảy triệu đồng), tiền lãi 194.382.981đ (Một trăm chín mươi tư triệu ba trăm tám mươi hai nghìn chín trăm tám mươi mốt đồng), tiền phí duy trì thẻ 9.034.634đ (Chín triệu không trăm ba mươi tư nghìn sáu trăm ba mươi tư đồng).

    Trường hợp anh Đàm Đình D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự phát mãi tài sản là thửa đất số 259, tờ bản đồ số 15, diện tích 213m² (mục đích sử dụng T, thời hạn sử dụng lâu dài), đất toạ lạc khu phố T, phường T thị xã Đ (nay là tổ F, khu phố C, phường T, thành phố Đ), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 423289, số vào sổ cấp GCN: 07359 QSDĐ/1432/QĐ-UBND tỉnh ( 31/01/2015) do UBND tỉnh B cấp ngày 12/08/2002; Ngày 25/05/2005, Phòng nông nghiệp – Địa chính điều chỉnh biến động theo QĐ số 3055/QĐ-UB ngày 05/12/2000 của UBND (T). DTSD hiện còn 206.5 TĐ, thổ cư 206.5m²; Ngày 15/03/2022 Chi nhánh VPĐKĐĐ thành phố Đ đã tiến hành điều chỉnh biến động thửa đất đứng tên anh Đàm Đình D và toàn bộ tài sản gắn liền với đất bao gồm 01 căn nhà cấp 4 có diện tích 150m² có kết cấu nhà mái lợp tôn, tường xây gạch có tô, nền lát gạch men, 02 mái vòm diện tích khoảng 50m², 01 cổng gạch lát gạch men, hàng rào sắt và công trình phụ để thu hồi khoản nợ.

    Trường hợp khi xử lý tài sản thế chấp, số tiền thu được dùng để trả nợ cho Ngân hàng mà còn thừa thì được trả lại cho anh Đàm Đình D. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H thì anh Đàm Đình D phải trả tiếp phần còn thiếu.

  3. - Về chi phí tố tụng: Anh Đàm Đình D phải chịu 3.000.000đ (Ba triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Do Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng trên nên anh Đàm Đình D có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng).
  4. - Về án phí: Anh Đàm Đình D phải chịu 55.512.528đ (Năm mươi lăm triệu năm trăm mười hai nghìn năm trăm hai mươi tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
  5. Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Phú trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H số tiền 25.995.000đ (Hai mươi lăm triệu chín trăm chín mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0010097 ngày 05/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Phú.

  6. - Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
  7. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

  8. - Về nghĩa vụ thi hành án:
  9. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong anh Đàm Đình D còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và đề nghị cấp thẻ tín dụng.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND huyện Đồng phú;
  • - THA huyện Đồng phú;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS;
  • - Lưu trữ.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký, đóng dấu)

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/DS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp qsdđ

  • Số bản án: 37/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp QSDĐ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP H khởi kiện anh Đàm Đình D yêu cầu trả tiền vay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger