Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TP

TỈNH TP

_______

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HS-ST.

Ngày: 04-4-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP - TỈNH TP

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Phạm Văn Minh.

+ Bà Nguyễn Hoàng Bích Loan.

-Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện TP.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Huỳnh Nhật Văn – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh TP xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Huỳnh Ngọc T, sinh ngày 16-5-2005 tại tỉnh TP.

Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Dân Hoà, xã Thuận Hoà, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh TP; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Ngọc Thông, sinh năm 1979 và bà Ngô Thị Châu, sinh năm 1981; chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18-8-2024, có mặt.

  1. Nguyễn Ánh M, sinh ngày 30-6-2006 tại tỉnh TP.

Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Phú Điền, xã Hàm Phú, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh TP; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh Bình, sinh năm 1976 và bà Đặng Thị Mỹ Hạnh, sinh năm 1979.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18-8-2024, có mặt.

- Bị hại: Nguyễn Thành D, sinh năm 2002; địa chỉ: thôn Vĩnh Tiến, xã Vĩnh Tân, huyện TP, TP. (Có mặt);

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Lê Thị Bích V, sinh năm 1983; địa chỉ: thôn Vĩnh Tiến, xã Vĩnh Tân, huyện TP, TP. (Có mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 04/4/2024, Nguyễn Thành D có nhờ Huỳnh Ngọc T đứng tên thông qua ví điện tử Momo vay giúp Danh số tiền 9.000.000 đồng (chín triệu đồng), Danh hứa sẽ trả lãi đúng hạn. Tuy nhiên, sau khi trả được 02 tháng tiền lãi thì Danh cắt đứt liên lạc để Thắng phải tự mình trả lãi. Vào khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 13/8/2024, Thắng điều khiển xe mô tô hiệu Vision biển số 86B3-908.01 đến nhà Nguyễn Ánh M, rủ Minh cùng đi gặp Danh để đòi tiền. Vào khoảng 12 giờ, ngày 13/8/2024, Thắng và Minh đến nhà của Danh, Minh đứng bên ngoài còn Thắng đi vào trong nhà nhìn thấy Danh đang nằm trên giường nên Thắng gọi Danh dậy và yêu cầu trả nợ cho Thắng thì Danh trả lời không có tiền trả. Sau khi nghe Danh nói như vậy, Thắng tức giận đi đến vị trí chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển số 86B1-481.31 (do mẹ ruột của Danh là Lê Thị Bích V mua của Nguyễn Văn Tường ở xã Bình Thạnh, huyện TP nhưng chưa sang tên), rút chìa khoá xe cầm trên tay, dắt xe ra ngoài gần chỗ Minh đang đứng, Danh bật dậy chạy theo Thắng thì bị Thắng dùng hai tay (tay phải có cầm chìa khoá xe) đấm liên tiếp khoảng 5-6 cái vào vùng đầu làm Danh té ngã xuống nền nhà. Minh đứng bên ngoài nhìn thấy toàn bộ sự việc nhưng không nói gì. Thắng đi đến chỗ xe mô tô hiệu Vision, mở cốp xe lấy 01 tờ giấy trắng và cây viết buộc Danh viết giấy mượn nợ với nội dung nợ Thắng số tiền 10.202.500 đồng (mười triệu hai trăm lẻ hai nghìn năm trăm đồng) và thế chấp xe exciter 86B1-418.31 cùng với điện thoại Oppo, hẹn đến ngày 01/01/2025 trả tiền thì trả xe cùng điện thoại. Trong lúc Danh viết giấy nợ, do bên trong nhà thiếu ánh sáng nên Minh cầm điện thoại di động của Minh mở đèn Plash cho Danh ghi còn Thắng đi đến vị trí giường nằm của Danh lấy chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A3S màu đỏ. Sau khi Danh viết xong, Thắng lấy tờ giấy nhận nợ cùng với điện thoại Oppo cất vào trong người và đưa cho Minh chìa khoá xe mô tô 86B1-481.31 để Minh điều khiển còn Thắng điều khiển xe mô tô Vision. Cả hai điều khiển xe đến quán nước tại huyện Bắc Bình, Minh điện thoại cho Đào Lê Minh Thiện, trú tại thị trấn Võ Xu, huyện Đức Linh, tỉnh TP hỏi bán xe mô tô 86B1-481.31, Thiện đồng ý mua với giá 17.500.000 đồng (mười bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi bán xe, Thắng đưa cho Minh số tiền 2.000.000 đồng và cả hai cùng nhau về lại Hàm Thuận Bắc, tại đây, Minh trả lại cho Thắng số tiền 2.000.000 đồng. Đến ngày 14/8/2024, Thắng đi làm tại Phan Thiết, gặp Nguyễn Văn Ửng và bán cho Ửng chiếc điện thoại Oppo A3s màu đỏ đen với giá 500.000 đồng, Ửng đưa trước số tiền 300.000 đồng còn nợ lại số tiền 200.000 đồng. Sau đó, Thắng sử dụng tiền từ việc bán tài sản để trả nợ gốc và lãi của Danh trên ví Momo.

Đến khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 13/8/2024, bà Lê Thị Bích V là mẹ ruột của Nguyễn Thành D phát hiện Danh có biểu hiện mệt mỏi, nôn ói và trong nhà bị mất tài sản nên đưa Danh đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Thuận, đồng thời trình báo sự việc cho Công an xã Vĩnh Tân.

Ngày 16/8/2024, Huỳnh Ngọc Thông là cha ruột của Huỳnh Ngọc T đã tự nguyện giao nộp 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu sơn xanh đen biển số 86B3-908.10; Nguyễn Văn Ứng giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ, kiểu máy CPH1853, số IMEI 1: 867791049232313, số IMEI 2: 867791049232305; ngày 17/8/2024 Đào Lê Minh Thiện tự nguyện giao nộp 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đỏ đen, biển số 86B1-481.31 và 01 giấy chứng nhận mang tên Nguyễn Văn Tường cho Cơ quan điều tra Công an huyện TP.

Tại biên bản kết luận định giá tài sản số 100/KL-HĐĐG ngày 19-9-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: 01 xe mô tô biển số 86B1-481.31, giá trị sử dụng còn lại 60%, thành tiền là 27.300.000 đồng (hai mươi bảy triệu ba trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại Oppo A3s màu đỏ đen, giá trị sử dụng còn lại 90%, thành tiền là 1.140.000 đồng (một triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản bị cướp đã được định giá là 28.440.000 đồng (hai mươi tám triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).

Tại Bản kết luận giám định thương tích số 13/KLTTCT-PVPYQG, ngày 17/01/2025 của Phân viện Pháp y quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: vết thay đổi sắc tố da vùng đầu phía sau vành tai trái có tỷ lệ tổn thương là 01%, nhồi máu não gối thể chai lệch phải là tổn thương bệnh lý; tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Thành D là 01%.

Về tang, vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại cho Nguyễn Thành D 01 xe mô tô biển số 86B1-481.31 và 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3s màu đỏ đen; trả lại cho ông Huỳnh Ngọc Thông 01 xe Vision biển số 86B3-908.01 do ông Thông không biết việc làm của Huỳnh Ngọc T.

Về trách nhiệm dân sự: Huỳnh Ngọc T tác động gia đình bồi thường cho Nguyễn Thành D số tiền 30.000.000 đồng; hoàn trả lại cho Đào Lê Minh Thiện số tiền 17.500.000 đồng; Nguyễn Ánh M tác động gia đình bồi thường cho Nguyễn Thành D số tiền 15.000.000 đồng. Nguyễn Thành D, Đào Lê Minh Thiện và Nguyễn Văn Ửng không yêu cầu bồi thường thêm khoản tiền nào khác.

Tại Bản Cáo trạng số 28/CT-VKSTP-HS, ngày 11 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TP đã truy tố các bị cáo về tội “Cướp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;
  • + Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”.
  • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Ánh M từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”.
  • - Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TP đã truy tố và việc truy tố các bị cáo là đúng, không oan, các bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
  • - Bị hại: Sự việc xảy ra cũng có một phần lỗi của bị hại, bị hại đã nhận đầy đủ tiền bồi thường và tài sản nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường khoản nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Huỳnh Ngọc T và Nguyễn Ánh M không có ý kiến, cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện, đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã làm rõ: Xuất phát từ việc bị hại Nguyễn Thành D nhờ bị cáo Huỳnh Ngọc T vay giúp tiền nhưng không trả lãi và tự ý cắt liên lạc nên bị cáo Thắng rủ bị cáo Nguyễn Ánh M cùng đi gặp bị hại để đòi tiền. Vào khoảng 12 giờ, ngày 13/8/2024, cả hai bị cáo đến nhà của bị hại Danh, bị cáo Minh đứng bên ngoài còn bị cáo Thắng đi vào trong nhà nhìn thấy bị hại đang nằm trên giường nên đến gọi và yêu cầu bị hại trả nợ thì bị hại trả lời không có tiền trả. Bị cáo Thắng tức giận nên đi đến vị trí chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển số 86B1-481.31 (do mẹ ruột của bị hại là Lê Thị Bích V mua của Nguyễn Văn Tường ở xã Bình Thạnh, huyện TP nhưng chưa sang tên), rút chìa khoá xe cầm trên tay, dắt xe ra ngoài gần chỗ bị cáo Minh đang đứng, bị hại Danh bật dậy chạy thì bị cáo Thắng dùng hai tay đấm liên tiếp khoảng 5-6 cái vào vùng đầu làm bị hại Danh té ngã xuống nền nhà. Bị cáo Thắng đi đến chỗ xe mô tô hiệu Vision, biển số 86B3-908.01, mở cốp xe lấy 01 tờ giấy trắng và cây viết buộc bị hại viết giấy mượn nợ. Trong lúc bị cáo Minh cầm điện thoại di động mở đèn Flash cho bị hại ghi thì bị cáo Thắng đi đến giường của bị hại lấy chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A3S màu đỏ đen. Sau đó, bị cáo Thắng lấy tờ giấy nhận nợ và đưa cho bị cáo Minh chìa khoá xe mô tô 86B1-481.31 để bị cáo Minh điều khiển. Khi cả hai đến quán nước tại huyện Bắc Bình, bị cáo Minh điện thoại cho Đào Lê Minh Thiện, trú tại thị trấn Võ Xu, huyện Đức Linh, tỉnh TP để bán xe mô tô 86B1-481.31 với giá 17.500.000 đồng (mười bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Đến ngày 14/8/2024, bị cáo Thắng tiếp tục bán chiếc điện thoại Oppo A3s màu đỏ đen với giá 500.000 đồng cho Nguyễn Văn Ửng và Ửng đưa trước số tiền 300.000 đồng. Bị cáo Thắng sử dụng tiền từ việc bán tài sản để trả nợ gốc và lãi của bị hại Danh trên ví Momo, số tiền còn lại bị cáo Thắng chiếm giữ. Về phần bị hại, vào lúc 14 giờ 30 phút, ngày 13/8/2024, bà Lê Thị Bích V phát hiện bị hại có biểu hiện mệt mỏi, nôn ói và trong nhà bị mất tài sản nên đưa bị hại đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Thuận, đồng thời trình báo sự việc cho lực lượng chức năng.

Tại Biên bản định giá số 100/KL-HĐĐG ngày 19-9-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: 01 xe mô tô biển số 86B1-481.31, giá trị sử dụng còn lại 60%, thành tiền là 27.300.000 đồng (hai mươi bảy triệu ba trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại Oppo A3s màu đỏ đen, giá trị sử dụng còn lại 90%, thành tiền là 1.140.000 đồng (một triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản bị cướp đã được định giá là 28.440.000 đồng (hai mươi tám triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng.

Vì vậy với hành vi trên của hai bị cáo đã đủ dấu hiệu để cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo Huỳnh Ngọc T và Nguyễn Ánh M là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đầy đủ nhận thức để nhận biết hành vi sử dụng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng cho cộng đồng dân cư. Vì vậy, cần thiết phải xử lý các bị cáo một mức án nghiêm khắc và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục và cải tạo các bị cáo để trở thành công dân tốt, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Huỳnh Ngọc T và Nguyễn Ánh M đã thống nhất ý chí để cùng đi đến nhà bị hại đòi nợ và cuối cùng lại cùng thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm hình sự chung tương xứng với tính chất, mức độ do các bị cáo gây ra. Mặc dù bị cáo Nguyễn Ánh M giúp sức cho bị cáo Huỳnh Ngọc T thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng không hưởng lợi gì từ việc bán tài sản của bị hại và vị trí, vai trò của bị cáo cũng thấp hơn bị cáo Huỳnh Ngọc T, do đó trách nhiệm hình sự của bị cáo nhẹ hơn bị cáo Huỳnh Ngọc T.

[5] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Sau khi phạm tội, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, tài sản đã được thu hồi giao trả cho bị hại; các bị cáo có nhân thân tốt, gia đình có công với cách mạng, bị hại xác định cũng có lỗi và đề nghị xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Các bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ chính nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 để xét xử các bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình đối với các bị cáo.

[6] Về tang, vật chứng trong vụ án: Thu hồi, giao trả lại cho bị hại và người liên quan trong giai đoạn điều tra nên không xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người liên quan Lê Thị Bích V, Đào Lê Minh Thiện không có yêu cầu khác; người liên quan Nguyễn Văn Ửng không yêu cầu bị cáo Huỳnh Ngọc T phải trả lại tiền nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo nên chấp nhận.

[9] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
  • - Tuyên bố: Các bị cáo Huỳnh Ngọc T và Nguyễn Ánh M cùng phạm tội “Cướp tài sản”.
  • - Áp dụng: khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
  • + Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Ngọc T 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt 18-8-2024.
  • + Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ánh M 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt 18-8-2024.
  • - Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.
  • Buộc các bị cáo Huỳnh Ngọc T và Nguyễn Ánh M, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo, bị hại và người liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (04-4-2025).

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh TP;
  • -VKSND huyện TP;
  • -PTTG khu vực TP;
  • -THADS huyện TP;
  • -Sở tư pháp tỉnh TP;
  • -Bị cáo;bị hại; người liên quan;
  • -Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán-Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Thu Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP - TỈNH TP về hình sự về tội "cướp tài sản"

  • Số bản án: 37/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Cướp tài sản"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP - TỈNH TP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Huỳnh Ngọc T 02 năm tù giam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger