|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2024/HS-ST
Ngày: 20/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Vũ;
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mý và ông RCom Blan.
- - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh Hạ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/HSST ngày 21/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 05/9/2024 đối với các bị cáo:
-
Ksor K – Sinh năm 1986 tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: Làng Tang, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Puih H và bà Ksor M. Bị cáo có vợ là Rơ Mah B và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2021. Tiền án: Không, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/5/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Ksor M1 – Sinh năm 1998 tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: Làng Bua, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Q và bà Ksor H1. Bị cáo có vợ là Rơ Mah H2 và có 02 người con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2024. Tiền án: Không, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 08/11/2016, Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai xử phạt Ksor Mak 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/5/2024 cho đến nay. Có mặt.
- * Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Nguyễn Hoàng Kim L – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh G. Có mặt.
- * Người làm chứng:
Chị Rơ Mah B, sinh năm 1992.
Nơi cư trú: Làng Tang, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- * Người phiên dịch tiếng Jrai: Ông Siu U. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 05/5/2024, Ksor M1 đến nhà Ksor K tại làng T, xã I, huyện I để chơi, M1 đã hỏi K “Anh có ma túy đá không?” thì K trả lời “Không có, muốn dùng thì góp tiền mua về dùng chung” thì M1 đồng ý và đưa cho K 200.000 đồng, còn K bỏ thêm vào 800.000 đồng. Sau đó, K đi đến khu vực xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai mua 01 gói ma túy với giá 1.000.000 đồng rồi mang về nhà K. Lúc này khoảng 17 giờ cùng ngày, M1 đang ở nhà K nên M1 và K cùng nhau uống rượu, đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì K mang số ma túy đã mua được ra đưa cho M1 và nói “Muốn dùng thì dùng” nhưng M1 không dùng mà cầm về cất tại lán nơi M1 ở làm thuê. Đến sáng ngày 06/5/2024, M1 quay lại nhà K và đưa cho K 01 gói ma túy rồi đi làm, khoảng 10 giờ sáng cùng ngày thì M1 quay lại và nói K lấy gói ma túy mà M1 đưa cho K cất giữ ra sử dụng thì K đồng ý. Khi K lấy gói ma túy ra đưa cho M1 để sử dụng thì M1 thấy lực lượng Công an và Biên phòng xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai đến nhà K nên M1 đưa gói ma túy lại cho K, khi K đang cầm ma túy ở tay phải thì bị bắt giữ cùng tang vật.
Tiến hành khám xét chỗ ở của Ksor K tại làng T, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai đã tạm giữ 01 ống thủy tinh trong suốt dài 6,5cm, bên trong có chất bám dính màu vàng nâu; 01 nắp nhựa gắn ống hút màu trắng dài 17cm, 01 bật lửa màu đỏ, 01 chai tự chế bằng nhựa và thủy tinh trong suốt, đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 487/KL-KTHS ngày 14/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh G, kết luận:
- + Chất rắn màu trắng dạng tinh thể trong 01 gói nilon được niêm phong trong bì thư công văn ghi “I” là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1257 gam.
- + Chất rắn màu vàng, nâu bám dính trong đoạn ống thủy tinh (uốn cong, một đầu phình to) được niêm phong trong bì thư công văn ghi “II” là ma túy, loại Methamphetamine, không cân được khối lượng chất bám dính do lượng mẫu ít.
* Vật chứng vụ án Cơ quan điều tra thu giữ, gồm:
- - Thu giữ trên người Ksor Kleo 01 gói nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, qua giám định xác định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,1257 gam, sau giám định đã được niêm phong theo quy định.
- - Thu giữ khi khám xét nơi ở của Ksor Kleo 01 ống thủy tinh trong suốt (uốn cong, một đầu phình to) dài 6,5cm, bên trong có chất bám dính màu vàng nâu, qua giám định xác định chất rắn màu vàng, nâu bám dính trong đoạn ống thủy tinh là ma túy loại Methamphetamine, không cân được khối lượng chất bám dính, sau giám định đã được niêm phong theo quy định; 01 nắp nhựa gắn ống hút màu trắng dài 17cm, 01 bật lửa màu đỏ, 01 chai tự chế bằng nhựa và thủy tinh trong suốt, đã qua sử dụng.
Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 21/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Ksor K và bị cáo Ksor M1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
2. Kết quả tranh tụng tại phiên tòa:
- - Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- - Tại phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, khung hình phạt như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điều 38 và điều 58 Bộ luật Hình sự đối với 02 bị cáo, áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ksor K.
Đề nghị tuyên phạt bị cáo Ksor K mức hình phạt từ 14 đến 20 tháng tù; tuyên phạt bị cáo Ksor M1 mức hình phạt từ 18 đến 24 tháng tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng của vụ án, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.
- - Người bào chữa cho các bị cáo trình bày lời bào chữa: Người bào chữa thống nhất tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với các bị cáo; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng cho 02 bị cáo. Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo Ksor K có nhân thân tốt, đã có nhiều đóng góp tích cực trong công tác tại thôn làng; 02 bị cáo có hoàn cảnh khó khăn vì con còn nhỏ tuổi. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt các bị cáo mức hình phạt không vượt quá mức hình phạt thấp nhất mà Viện kiểm sát đã đề nghị tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, kiểm sát viên đã thu thập đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên hợp pháp. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên và người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội: Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa; các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để xác định các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:
Vào sáng ngày 05/5/2024, bị cáo Ksor K và Ksor M1 cùng bàn bạc, thống nhất việc góp tiền để mua ma túy sử dụng, bị cáo Ksor M1 đã góp số tiền 200.000 đồng, còn bị cáo Ksor K góp số tiền 800.000 đồng. Sau đó, bị cáo Ksor K đã đón xe ô tô khách đi đến khu vực xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai và dùng số tiền trên để mua 01 gói ma túy của đối tượng hiện chưa rõ nhân thân. Sau khi trở về nhà và ăn nhậu xong, bị có Ksor K đã lấy ma túy đưa cho Ksor M1 để sử dụng nhưng do chưa có nhu cầu nên Ksor M1 đã mang về cất giấu tại chỗ ở. Đến sáng ngày 06/5/2024, bị cáo Ksor M1 đã cầm ma túy đến đưa lại cho Ksor K, khi cả 02 bị cáo chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị phát hiện, bắt quả tang. Kết quả giám định kết luận, tang vật thu giữ của 02 bị cáo là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,1257 gam. Xét các bị cáo đã có hành vi cùng nhau mua ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,1257 gam và cất giấu nhằm mục đích để sử dụng nên đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Các bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức, thừa nhận biết rõ ma túy là chất cấm, mọi hành vi mua bán, tàng trữ là vi phạm pháp luật, phải bị xử lý nghiêm khắc nhưng vì muốn có ma túy để sử dụng, các bị cáo đã bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi góp tiền mua ma túy, cấu giấu cho đến khi mang ra sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Mặt khác, loại tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện I phát sinh ngày càng tăng, mặc dù đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự và xử phạt nghiêm khắc nhưng không giảm. Do đó, cần phải nghiêm trị các bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Các bị cáo cùng thống nhất ý chí trong việc trao đổi, góp tiền mua ma túy sử dụng nên vụ án mang tính đồng phạm giản đơn. Đối với bị cáo Ksor M1, bị cáo là người khởi xướng, rủ bị cáo Ksor K sử dụng ma túy dẫn đến phát sinh việc các bị cáo mua ma túy tàng trữ để sử dụng. Tuy số tiền góp mua ma túy của bị cáo ít hơn nhưng với vai trò là người khởi xướng, chủ mưu và ý thức chấp hành pháp luật kém, vì nhân thân bị cáo đã từng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu trách nhiệm cao hơn bị cáo Ksor K. Đối với bị cáo Ksor K, bị cáo là người cùng góp tiền, trực tiếp đi mua ma túy đưa cho Ksor M1 cất giấu cho đến khi chuẩn bị sử dụng cùng Ksor M1 thì bị bắt nên giữ vai trò là người thực hành tội phạm, cần thiết xử phạt bị cáo nghiêm khắc, phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và vai trò đồng phạm.
[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Bị cáo Ksor K có nhân thân tốt; bị cáo Ksor M1 có nhân thân xấu, vì năm 2016 bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Ksor K được Ủy ban nhân dân xã I và Ủy ban nhân dân huyện I tặng nhiều giấy khen, vì đã có thành tích trong công tác tại thôn, làng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về vật chứng: Gồm có:
- - 01 bật lửa màu đỏ, đã qua sử dụng.
- - 01 nắp nhựa màu trắng có gắn ống nhựa dài 17 cm.
- - 01 chai tự chế bằng nhựa và thủy tinh.
- - 02 Bì Công văn của Phòng K1 Công an tỉnh G.
Các vật chứng trên liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 326; Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Ksor K và bị cáo Ksor M1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Ksor M1 16 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/5/2024.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Ksor K 14 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/5/2024.
2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu hủy:
- 01 bật lửa màu đỏ, đã qua sử dụng.
- 01 nắp nhựa màu trắng có gắn ống nhựa dài 17 cm.
- 01 chai tự chế bằng nhựa và thủy tinh.
- 02 Bì Công văn của Phòng K1 Công an tỉnh G.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/8/2024 giữa Công an huyện I và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ia Grai).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Ksor K và bị cáo Ksor M1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án hôm nay, các bị cáo có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Vũ |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự Ksor Kleo - Ksor Mak
