|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 37/2024/DS-ST Ngày: 20-6-2024 “V/v Tranh chấp đất đai” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Biện Việt Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Võ Thanh Đức.
2. Ông Nguyễn Văn Quang.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã La Gi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi: Bà Nguyễn Thị Ngọc – Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 95/2022/TLST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Â, sinh năm: 1950;
Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;
Đại diện theo ủy quyền của bà Â: Ông Phan Văn T, sinh năm: 1969; Địa chỉ: Khu phố E, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;(Theo Hợp đồng ủy quyền số 484 ngày 04/08/2022 do Ủy ban nhân dân xã T, thị xã L chứng thực).
-
Bị đơn: Ông Phan Văn C, sinh năm: 1965; Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông C: Luật sư Cổ Thành C1 – Trưởng Văn phòng L – Đoàn Luật sư tỉnh B.
Địa chỉ: Số B, đường L, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Cao Thị T1, sinh năm: 1970;
Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;
Đại diện theo ủy quyền của bà T1: Ông Phan Văn C, sinh năm: 1965; (Theo Hợp đồng ủy quyền số 354 ngày 28/5/2024 tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã L)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
Các đương sự có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/4/2022, trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phan Văn T trình bày:
Bà Đỗ Thị Â được thừa kế hợp pháp thửa đất theo Giấy chứng nhận số M 463001 được Ủy ban nhân dân huyện H (C) cấp cho ông Đỗ Đ vào ngày 11/12/1998, đến ngày 02/09/2009 cập nhật chỉnh lý biến động thửa đất bà Đỗ Thị Â nhận thừa kế quyền sử dụng đất theo biên bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được Ủy ban nhân dân xã T chứng thực số 86 ngày 01/09/2009. Quá trình sử dụng đất đến ngày 17/02/2020 bà Â có tặng cho bà Hồ Thị Kim Q diện tích 60,4m² và đã được cập nhật chỉnh lý biến động. Phần còn lại bà Â sử dụng cho đến nay.
Vị trí tứ cận: Phía bắc giáp đường L, phía đông giáp đất bà Hồ Thị Kim Q, phía nam giáp đất của bà Â, phía Tây giáp đất ông Phan Văn C. Hiện trạng trước đây là hàng rào bê tông tạm giữa hai biên, hàng rào này do ông Phan Văn C tự ý cắm cọc.
Vào ngày 11/01/2022, ông C có tiến hành xây dựng tường rào bê tông giáp đất của bà Â. Quá trình sử dụng bà Â phát hiện đất còn thiếu. Qua kiểm tra thì bà Â thấy phần diện tích đất còn thiếu bị ông Phan Văn C lấn chiếm. Bà Â có yêu cầu ông C kiểm tra lại diện tích đất của mình nhưng ông C không hợp tác. Diện tích đất của bà Â bị lấn chiếm khoảng 7,54m². Nay nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu tại đơn khởi kiện yêu cầu buộc ông Phan Văn C phải trả lại 7,54m² phần diện tích bị lấn chiếm và tháo gỡ công trình trên phần đất lấn chiếm trả lại hiện trạng ban đầu cho bà Â.
Theo sơ đồ hiện trạng thửa đất duyệt ngày 29/12/2022 được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã L vẽ thì phần diện tích tranh chấp là (B) = 21,6m².
Quá trình tiếp cận tài liệu, chứng cứ của vụ án nguyên đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện của mình là yêu cầu buộc ông Phan Văn C phải tháo dỡ công trình trên đất và trả lại diện tích 5,6m² đất đã lấn chiếm.
Tại phiên tòa, bị đơn xác định phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông Phan Văn C và bà Cao Thị T1, nguyên đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện buộc ông Phan Văn C và bà Cao Thị T1 phải tháo dỡ công trình trên đất và trả lại diện tích 5,6m² đất đã lấn chiếm.
* Bị đơn, đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị T1 là ông Phan Văn C trình bày:
Nguồn gốc đất của ông C và đất của bà Â (Bà Â là dì ruột của ông C) là do ông N tên Đỗ Đài t cho. Thửa đất này có một phần là ruộng và một phần đất khô. Năm 1985, ông C lập gia đình, năm 1986 ông Đ cho vợ chồng ông C phần đất khô để làm nhà ra ở riêng. Năm 1998 ông C được Ủy ban nhân dân huyện H (C) cấp Giấy chứng nhận số M 463019 vào ngày 11/12/1998 đối với phần đất ông Đ cho ông C. Thời điểm này thì phần ruộng của ông Đ cũng được cấp Giấy chứng nhận. Ngày 11/01/2022 ông C tiến hành xây dựng lại tường rào bao quanh đất, trong đó có phần tường rào giáp đất bà Â. Việc xây dựng tường rào ông C thực hiện đúng vị trí hàng rào cũ, có những người thợ xây dựng biết, nên việc bà Â cho rằng ông C lấn chiếm đất của bà là không có căn cứ. Vì vậy phía bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Ý kiến trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn:
Bản chất của vụ án này là tranh chấp về ranh giới, mốc giới giữa hai thửa đất số 63 của nguyên đơn và thửa 65 của bị đơn, nguyên đơn khởi kiện 7,5m² đất của mình, bị đơn khẳng định đây là đất của bị đơn. Vấn đề đặt ra trong vụ án này là xác định có lấn chiếm đất hay không. Trong quá trình xét xử, giải quyết, ngoài các tài liệu các bên cung cấp, Tòa có thu thập thêm nhiều tài liệu, chứng cứ liên quan, tuy nhiên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn cho rằng cần làm rõ một số tài liệu, chứng cứ sau để có căn cứ đánh giá khách quan:
-
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất M 463019 của bị đơn có sai sót như: Diện tích đất sử dụng thực tế của bị đơn là 481,6m², nhưng Giấy chứng nhận chỉ ghi 240m², thiếu ½ diện tích. Vị trí đất giáp đường lộ 709, phía Đông giáp thửa số 63, phía Nam giáp thửa 69, phía Tây giáp đường hẻm. Trong khi bản đồ địa chính 299 và biên bản xác định ranh giới, lộ giới của UBND xã T (nay là UBND xã T) đều xác định thửa 102 (nay là thửa 65) có diện tích 481,6m².
-
- Bản đồ 299 của Chi nhánh trích lục ngày 02/8/2022 và biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất thuộc sử dụng là ông Phan Văn C, có chữ ký của hộ sử dụng đất tiếp giáp là ông Hồ Thanh C2, chồng bà Â thì đều xác định cạnh tiếp giáp đường L có chiều dài 21,31m, sơ đồ khu đất tranh chấp khi thẩm định, đo đạc, cạnh này là 18,82m, chưa tính phần tranh chấp là 1,6m, nếu cộng cả phần tranh chấp thì chiều dài cạnh này là 20,42 m, vẫn còn thiếu của bị đơn 0,89 mét.
-
- Biên bản làm việc ngày 09/5/2024 của Tòa án La Gi làm việc đối với vụ án tranh chấp đất đai giữa ông C và bà Â không thể hiện mục đích, yêu cầu làm việc nhưng ghi thẳng kết quả làm việc có 4 nội dung như đã trình bày ở trên. Từ các nội dung trên kết luận hai Giấy chứng nhận được cấp theo bản đồ 299 là không chồng lấn nhau nhưng lại cho rằng khi áp bản đồ này là không đúng ranh do Chi nhánh Văn phòng Đ1 xác định vì hai Giấy chứng nhận này là cấp trước bản đồ 299.
-
- Đối với thửa đất tranh chấp, qua đo đạc thẩm định, mặc dù thẩm định, đo đạc thực tế nhưng sơ đồ đo đạc không thể hiện đúng hiện trạng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể cạnh tiếp giáp đường L nhưng sơ đồ hiện trạng lại thể hiện cạnh này cách đường L 14,5m, hệ lụy là khi áp bản đồ không trùng ranh và tính toán kích thước các cạnh, diện tích thiếu chính xác.
Đề nghị hoãn phiên tòa để tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ thuộc chuyên môn lĩnh vực đất đai gồm xác định: Giấy chứng nhận đã cấp cho bị đơn cấp năm 1998 là đúng hay sai so với thực tế; Giải thích việc khi áp Bản đồ địa chính 299 và bản đồ do xí nghiệp Đ2 đo khác gì nhau.
Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
-
- Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đảm bảo cho việc ra quyết định, bản án đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư khách quan khi xét xử. Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng các quy định về quyền, nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
- Về nội dung vụ án: Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu buộc ông Phan Văn C phải tháo dỡ kiềng tường rào, trả phần diện tích đất 5,6m² .
-
- Về án phí, chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Bà Đỗ Thị Â có đơn khởi kiện yêu cầu tranh chấp đất đai đối với ông Phan Văn C đây là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Trong vụ án, nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn tháo dỡ công trình trên diện tích đất tranh chấp để trả lại diện tích đất cho nguyên đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp đất đai” theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối tượng tranh chấp là bất động sản tọa lạc tại thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận theo điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về yêu cầu hoãn phiên tòa của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[2] Về chứng cứ: Tại phiên tòa, các đương sự không cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ gì mới. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.
[3] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ án như sau:
[3.1] Về diện tích đất tranh chấp: Căn cứ biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 21/10/2022 (Bút lục 76, 77); Sơ đồ hiện trạng thửa đất được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã L vẽ theo sự chỉ dẫn của nguyên đơn, bị đơn duyệt ngày 29/12/2022 thì phần diện tích tranh chấp có diện tích B = 21,6m². (Bút lục 79)
[3.2] Xét tính pháp lý của các thửa đất:
-
- Thửa đất số 63, tờ bản đồ số 02, diện tích 260,0m², tọa lạc tại thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số M 463001 được Ủy ban nhân dân huyện H (Cũ) cấp cho hộ ông Đỗ Đ vào ngày 11/12/1998, đến ngày 02/09/2009 cập nhật chỉnh lý biến động thửa đất bà Đỗ Thị Â nhận thừa kế quyền sử dụng đất theo biên bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được Ủy ban nhân dân xã T chứng thực số 86 ngày 01/09/2009. (Sau đây gọi tắt là Giấy chứng nhận số M 463001) (Bút lục 07)
-
- Thửa đất số 65, tờ bản đồ số 02, diện tích 240,0m², tọa lạc tại thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số M 463019 được Ủy ban nhân dân huyện H (Cũ) cấp cho hộ ông Phan Văn C vào ngày 11/12/1998. (Sau đây gọi tắt là Giấy chứng nhận số M 463019) (Bút lục 40)
Căn cứ Công văn số 2281/UBND-TNMT ngày 01/8/2023 của Ủy ban nhân dân thị xã L xác định thủ tục cấp Giấy chứng nhận số M 463001 và Giấy chứng nhận số M 463019 đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. (Bút lục 139)
[3.3] Xét diện tích đất tranh chấp:
Theo lời trình bày của nguyên đơn, bà Đỗ Thị Â được thừa kế hợp pháp thửa đất theo Giấy chứng nhận số M 463001 được Ủy ban nhân dân huyện H (C) cấp cho ông Đỗ Đ vào ngày 11/12/1998, đến ngày 02/09/2009 cập nhật chỉnh lý biến động thửa đất bà Đỗ Thị Â nhận thừa kế quyền sử dụng đất. Vào ngày 11/01/2022, ông C có tiến hành xây dựng tường rào bê tông giáp đất của bà Â. Quá trình sử dụng bà Â phát hiện đất còn thiếu. Qua kiểm tra thì bà Â thấy phần diện tích đất còn thiếu bị ông Phan Văn C lấn chiếm. Bà Â có yêu cầu ông C kiểm tra lại diện tích đất của mình nhưng ông C không hợp tác. Theo lời trình bày của bị đơn, nguồn gốc đất của ông C và đất của bà Â (Bà Â là dì ruột của ông C) là do ông ngoại tên Đỗ Đài t cho. Năm 1998 ông C được Ủy ban nhân dân huyện H (C) cấp Giấy chứng nhận số M 463019 vào ngày 11/12/1998 cho hộ ông Phan Văn C. Ngày 11/01/2022 ông C tiến hành xây dựng lại tường rào bao quanh đất, trong đó có phần tường rào giáp đất bà Â. Việc xây dựng tường rào ông C thực hiện đúng vị trí hàng rào cũ nên không có việc ông C lấn chiếm đất của bà Â.
Hộ ông Phan Văn C được cấp Giấy chứng nhận số M 463019 với diện tích sử dụng là 240,0m². Theo sơ đồ hiện trạng thửa đất được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã L vẽ theo sự chỉ dẫn của nguyên đơn, bị đơn thì hiện trạng sử dụng của ông Cầu là 224,0m² nếu cộng với diện tích tranh chấp 21,6m² thì có diện tích là 245,6m² vượt quá phần diện tích sử dụng được cấp Giấy chứng nhận là 5,6m².
Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, nguyên đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện buộc ông Phan Văn C và bà Cao Thị T1 phải tháo dỡ công trình trên đất và trả lại diện tích 5,6m² đất đã lấn chiếm. Xét thấy, tại Công văn số 1658/CN-VPĐKĐĐLAGI ngày 28/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã Đ1 cung cấp thông tin “Đối với phần diện tích tranh châp 21,6m² thì có 16m² thuộc giấy chứng nhận số M 463019 do UBND huyện H (cũ) cấp ngày 11/12/1998 cho hộ ông Phan Văn C và diện tích còn lại 5,6m² thuộc giấy chứng nhận số M 463001 do UBND huyện H (cũ) cấp ngày 11/12/1998 cho hộ ông Đỗ Đ, đến ngày 02/9/2009 chỉnh lý biến động sang tên cho bà Đỗ Thị ” và có sơ đồ kèm theo. (Bút lục số 141, 142).
Về công trình trên phần diện tích đất tranh chấp: Căn cứ biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 21/11/2022. Tài sản trên phần đất tranh chấp có phần kiềng đá chẽ, cao 0,6 m trở lên do ông Phan Văn C xây dựng tháng 01/2022.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định phần diện tích đất đang tranh chấp là 5,6m² thuộc quyền sử dụng, quản lý hợp pháp của nguyên đơn. Việc bà Đỗ Thị Â khởi kiện yêu cầu buộc ông Phan Văn C và bà Cao Thị T1 phải tháo dỡ, di dời toàn bộ công trình có trên diện tích 5,6m² đất để trả lại phần đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Đỗ Thị Âu 1 có căn cứ nên nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Về án phí: Do yêu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26; Điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu chi phí định giá tài sản; Xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc để hoàn lại cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 101; Khoản 1 Điều 147; Điều 157; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 166, Điều 174, Điều 175, Điều 176, Điều 186 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 12; Điều 100; Điều 170, Điều 171 và khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12; Khoản 2 Điều 26; Điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị Â:
Buộc ông Phan Văn C và bà Cao Thị T1 phải tháo dỡ, di dời toàn bộ công trình có trên diện tích 5,6m² đất để trả lại phần đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Đỗ Thị Â thể hiện từ các điểm (2)-(3)-(4) theo sơ đồ khu đất tranh chấp ngày 19/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã Đ1.
(Đính kèm sơ đồ khu đất tranh chấp ngày 19/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã Đ1).
-
- Về án phí: Buộc ông Phan Văn C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
-
- Về chi phí tố tụng: Ông Phan Văn C phải chịu 6.580.000 đồng (Sáu triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng) chi phí định giá tài sản; Xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc để hoàn lại cho bà Đỗ Thị Â.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7A,7B và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Quyền kháng cáo bản án của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/6/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Biện Việt Hùng |
Bản án số 37/2024/DS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp đất đai
- Số bản án: 37/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buộc ông Phan Văn C và bà Cao Thị T phải tháo dỡ, di dời toàn bộ công trình có trên diện tích 5,6m2 đất để trả lại phần đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Đỗ Thị A thể hiện từ các điểm (2)-(3)-(4) theo sơ đồ khu đất tranh chấp ngày 19/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã La Gi. (Đính kèm sơ đồ khu đất tranh chấp ngày 19/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã La Gi).
