Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày: 20-6-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thơ
  2. Ông Bùi Anh Tấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

1. Cù Mai Minh Q, sinh năm 1999, tại An Giang; Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cù Minh A, sinh năm 1972 và bà Mai Thị Tuyết N, sinh năm: 1974; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ con;

Nhân thân: Ngày 12/9/2023 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang ra Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, thời gian cai nghiện từ ngày 12/9/2023 đến ngày 12/9/2024.

Tiền án:

  • + Ngày 28/3/2018 bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, xử phạt 01 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 13/11/2018 chấp hành án xong.
  • + Ngày 11/5/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xử phạt 02 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 29/4/2022 chấp hành án xong.

Tiền sự: không

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2023, tại Nhà tạm giữ - Công an huyện C, tỉnh An Giang. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Bùi Tấn T, sinh năm 2001, tại An Giang; Nơi cư trú: ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Thành L, sinh năm 1981 và bà Trần Thị Bích V, sinh năm: 1985; bị cáo có 03 anh em, bị cáo là người lớn nhất trong gia đình; vợ: Trương Thị Ngọc Á, sinh năm 2000, con có một người sinh năm 2019;

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2023, tại Nhà tạm giữ - Công an huyện C, tỉnh An Giang. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Mai Thị Tuyết N, sinh năm 1974 (có mặt) Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang
  2. Bùi Thành L, sinh năm 1981 (có mặt) Địa chỉ: ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang
  3. Trương Hữu T1, sinh năm 1995 (vắng mặt) Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.

* Người làm chứng: Phạm Trần T2, Thái Nhựt Q1, Nguyễn Đỗ Khắc D, Phạm Văng Linh E, Dương Tôn B, Mai Thị Tuyết L1 (đều vắng mặt).

* Người chứng kiến: Huỳnh Trung H, Nguyễn Tấn L2 (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 07/11/2023 Bùi Tấn T nhắn tin cho Cù Mai Minh Q hỏi mua ma túy để bán lại thì Q đồng ý. Khoảng 15 giờ cùng ngày T đến nhà Q nhưng không có Q ở nhà mà chỉ có Đặng Huy H1 ở nhà đang đợi Q. Khoảng 16 giờ Q về nhà cùng với Nguyễn Đỗ Khắc D, Q vào phòng lấy ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy tổ chức cho T, D và H1 cùng sử dụng ma túy với Q ngay tại phòng khách nhà của Q. Sau khi sử dụng ma túy xong T hỏi mua ma túy để bán lại thì Q đồng ý bán số ma túy còn lại sau khi sử dụng cho T với giá 1.500.000 đồng. Sau đó T nói Q đi cùng T bán ma túy cho D1, sau khi bán được sẽ đưa tiền cho Q.

T điều khiển xe mô tô biển số: 67B1 - 284.97 đi trước, Q kêu D điều khiển xe mô tô biển số: 67C1 - 043.21 chở Q chạy theo T. Khi đến khu vực gần nhà trọ G thuộc ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang, Q lấy 01 bọc nylon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ chứa ma túy được để giữa vỏ và bọc nylon của bao thuốc lá điếu nhãn hiệu YETT đưa cho T, T nhận 01 bọc ma túy của Q đưa cất giấu vào túi áo khoác bên trái đang mặc. T chạy xe vào đường H để bán ma túy cho D1 nhưng chưa bán được thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C kết hợp Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh A phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Ngoài ra, khoảng cuối tháng 10/2023 và đầu tháng 11/2023, Q cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy và dùng địa điểm là nhà của Q tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang tổ chức cho T và D cùng sử dụng trái phép chất ma túy với Q 02 lần.

* Vật chứng thu giữ:

  • - Thu giữ của Bùi Tấn T: 01 bọc nylon trong suốt, có rãnh khóa viền màu đỏ, chứa tinh thể màu trắng được để giữa vỏ và bọc nylon của bao thuốc lá điếu nhãn hiệu YETT; 01 xe mô tô biển số: 67B1 - 248.97; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, màu trắng, có gắn sim số 0385836637.
  • - Thu giữ của Cù Mai Minh Q: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu xanh, có gắn sim số: 0356697948; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A7, màu xanh đen, có gắn sim số: 0862727149; 01 xe mô tô biển số: 67C1 - 043.21; Tiền Việt Nam 1.180.000 đồng.
  • - Thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Cù Mai Minh Q: 01 bình thủy tinh màu trắng, có quấn bọc nylon, miệng bình có gắn 01 nỏ thủy tinh chứa tạp chất được gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu đen và một đoạn ống hút nhựa màu xanh được nối với đoạn ống hút nhựa màu vàng; 01 chai gas bằng kim loại, màu đỏ đen, có dòng chữ BUTANCE GAS MEGA 1; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 cây cân điện tử màu trắng, có nắp màu đen và 01 nỏ thủy tinh.

* Kết luận giám định số: 214/KL-KTHS(MT-GT) ngày 14/11/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận: Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng: 3,6651 gam.

* Kết luận giám định số: 226/KL-KTHS(MT-GT) ngày 07/12/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận: Mẫu M gửi đến giám định có ma túy (dạng vết, không thể cân khối lượng), loại: Methamphetamine.

* Kết luận giám định số: 217/KL-KTHS ngày 13/3/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận: Tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong: 03 điện thoại di động (ký hiệu: A1, A2, A3) do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C gửi giám định, chi tiết thể hiện trong DVD dữ liệu trích xuất kèm theo.

Ngày 16/11/2023, Cù Mai Minh Q và Bùi Tấn T bị khởi tố để điều tra.

Tại Bản cáo trạng số: 31/CT-VKS ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Cù Mai Minh Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b, h khoản 2 Điều 255 Bộ Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Bùi Tấn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Cù Mai Minh Q và Bùi Tấn T thừa nhận hành vi phạm tội, Q nhiều lần bán ma túy cho T, D, Q1, T2, K, V1, N1 với giá từ 150.000 đồng đến 300.000 đồng. T mua lại của Q và bán cho Linh E, T3 với giá 200.000 đồng đến 300.000 đồng. Ngoài ra Quân còn nhiều lần tổ chức cho T và D sử dụng trái phép ma túy cùng với Q tại nhà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Mai Thị Tuyết N trình bày: Xe mô tô biển số: 67C1 - 043.21 là tài sản của N cho Q mượn làm phương tiện đi lại, không biết Q sử dụng xe đi mua bán ma túy, điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A7 là tài sản của N đưa Q cài đặt lại, còn 1.180.000 đồng là tiền hụi mà N kêu Q đến gặp L1 lấy dùm nhưng Q chưa đưa lại cho N thì bị Công an bắt thu giữ, N xin được nhận lại các tài sản nói trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thành L, Trương Hữu T1 cùng trình bày: Lặc là cha ruột của Bùi Tấn T. Khoảng tháng 10/2022, L mua xe mô tô biển số: 67B1 - 248.97 của Trương Hữu T1 với giá 2.000.000 đồng nhưng chưa sang tên sở hữu. Ngày 07/11/2023, L cho Bùi Tấn T mượn xe làm phương tiện đi lại, không biết Bùi Tấn T sử dụng xe đi mua bán ma túy. Lặc xin được nhận lại xe mô tô trên.

Người chứng kiến và người làm chứng trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 251; Điều 255; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Cù Mai Minh Q mức án từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; mức án từ 09 năm đến 10 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Q, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam; đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Tấn T mức án từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; đề nghị xử phạt bổ sung số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) đến 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước đối với mỗi bị cáo.

Về xử lý vật chứng, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong, bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, khối lượng 3,6100 gam, 01 phong bì được niêm phong, bên trong có 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy không chứa gì, 01 vỏ bao thuốc lá hiệu YETT, 01 chai gas; 01 cây kéo; 01 cây cân điện tử và 01 nỏ thủy tinh.
  • - Trả lại cho Mai Thị Tuyết N 01 mô tô biển số: 67C1 - 043.21, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A7 có gắn sim số 0862727149 và số tiền 1.180.000 đồng;
  • - Trả lại cho Bùi Thành L 01 xe mô tô biển số 67B1 - 248.97.
  • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO A15, có gắn sim số 0385836637 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57, có gắn sim số 0356697948.

Về biện pháp tư pháp:

Đề nghị truy thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000 đồng bị cáo Cù Mai Minh Q thu lợi bất chính và số tiền 100.000 đồng bị cáo Bùi Tấn T thu lợi bất chính.

Các Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng, tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người chứng kiến; người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trương Hữu T1, những người làm chứng, người chứng kiến được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai và làm rõ các tình tiết vụ án nên việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án

[2] Về nội dung vụ án:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Cù Mai Minh Q đã nhiều lần tổ chức cho các đối tượng khác sử dụng ma túy trái phép tại nhà, Q cũng nhiều lần bán ma túy cho các con nghiện trên địa bàn huyện C, trong đó có Bùi Tấn T mua ma túy của Q để bán lại cho các con nghiện khác hưởng chênh lệch. Hành vi của bị cáo Cù Mai Minh Q đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm a, b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Bùi Tấn T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý nhà nước đối với chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương, là mầm mống của các tội phạm khác. Các bị cáo đủ khả năng nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, bản thân bị cáo Q đã có tiền án về các tội liên quan đến ma túy, chưa được xóa án tích lại tái phạm nguy hiểm, do đó cần áp dụng hình phạt cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoản thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội. Ngoài ra các bị cáo mua bán ma túy nhằm mục đích để thu lợi bất chính nên cần áp dụng mức hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, các bị cáo tự thú khai nhận hành vi phạm tội trước đó, bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động nghèo, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với vật chứng là 01 phong bì được niêm phong, bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, khối lượng 3,6100 gam, 01 phong bì được niêm phong, bên trong có 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy không chứa gì, 01 vỏ bao thuốc lá hiệu YETT, 01 chai gas; 01 cây kéo; 01 cây cân điện tử và 01 nỏ thủy tinh. Đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tịch thu, tiêu hủy.

  • - Đối với vật chứng là 01 mô tô biển số: 67C1 - 043.21, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A7 có gắn sim số 0862727149 và số tiền 1.180.000 đồng, đây là tài sản của Mai Thị Tuyết N, N không biết Q mượn xe mô tô thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho N.

  • - Đối với vật chứng là 01 xe mô tô biển số 67B1 - 248.97 là tài sản của Bùi Thành L, L không biết T mượn xe mô tô thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho L.

  • - Đối với vật chứng là 01 điện thoại di động hiệu OPPO A15, có gắn sim số 0385836637 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57, có gắn sim số 0356697948, đây là phương tiện liên lạc các bị cáo dùng vào việc phạm tội, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

[6] Về biện pháp tư pháp:

Bị cáo Q và bị cáo T có hành vi mua bán trái phép chất ma túy thu lợi bất chính, do đó cần truy thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000 đồng bị cáo Q thu lợi bất chính và số tiền 100.000 đồng bị cáo T thu lợi bất chính.

[7] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ các điểm b, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; các điểm a, b, h khoản 2 Điều 255; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Cù Mai Minh Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

    - Xử phạt bị cáo Cù Mai Minh Q 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt của hai tội thành hình phạt chung là 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam (Ngày 07/11/2023).

    - Phạt tiền bị cáo Cù Mai Minh Q 7.000.000 (bảy triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

  2. Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Bùi Tấn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

    - Xử phạt bị cáo Bùi Tấn T 7 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam (Ngày 07/11/2023).

    - Phạt tiền bị cáo Bùi Tấn T 5.000.000 (năm triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    • Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang và các chữ ký tên Nguyễn Thị Mỹ H2, Trần Thiện T4, bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, khối lượng 3,6100 gam; 01 phong bì được niêm phong có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang và các chữ ký tên Nguyễn Thị Mỹ H2, Lê Văn T5, bên trong có 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy không chứa gì, 01 vỏ bao thuốc lá hiệu YETT, 01 chai gas bằng kim loại; 01 cây kéo bằng kim loại; 01 cây cân điện tử màu trắng và 01 nỏ thủy tinh.

    • - Trả lại cho Mai Thị Tuyết N 01 mô tô biển số: 67C1 - 043.21, nhãn hiệu Yamaha, lại Sirius, màu trắng-đen, số khung: RLCS5C630BY506841, số máy: 5C63506886; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, IMEI 1: 351580109695052, số IMEI 2: 351581109695050, có gắn sim số 0862727149 và số tiền 1.180.000 đồng.

    • - Trả lại cho Bùi Thành L 01 xe mô tô biển số: 67B1 - 248.97, nhãn hiệu: Mikado, màu đen, số loại: C110, số khung: H0UM7XP21494, số máy: 52FMHN021494.

    • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO A15, IMEI 1: 869868054261276, số IMEI 2: 869868054261268, có gắn sim số 0385836637 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57, IMEI 1: 862173063620019, số IMEI 2: 862173063620001, có gắn sim số 0356697948.

    (Các vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang theo quyết định chuyển vật chứng số 24/QĐ-VKS-HS ngày 16/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang).

  4. Về biện pháp tư pháp

    Truy thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000 đồng bị cáo Cù Mai Minh Q thu lợi bất chính và số tiền 100.000 đồng bị cáo Bùi Tấn T thu lợi bất chính.

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Cù Mai Minh Q và Bùi Tấn T mỗi người phải chịu 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

  6. Về quyền kháng cáo : Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (20/6/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản bán được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Phòng KTNV-THA – TAND tỉnh An Giang;
  • - CQ CSĐT Công an huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THA.DS huyện Châu Thành;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Hữu Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 8 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger