Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ GIA MẬP

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày: 20-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Tấn Lãm
  2. Bà Phùng Thị Kim Yến

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thuý Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quỳnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

- Họ và tên: Điểu T, sinh năm 2001; nơi sinh: Bình Phước; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 00/12; dân tộc: X'Tiêng; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Thanh S và bà Điểu Thị L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: 01 (bị Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tuyên xử 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 59/2023/HS-ST ngày 07/9/2023, đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xoá án tích), tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Bình Phước từ ngày 19/02/2024 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Ghi K - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B; địa chỉ: đường T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (có mặt)

· Bị hại: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Điểu L1, sinh ngày 21/11/2004, nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; (vắngmặt)

- Người làm chứng:

Anh Điểu C, sinh ngày 05/9/2008; địa chỉ: thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. (có mặt)

Người giám hộ của Điểu C: ông Điểu Văn N, sinh ngày 01/01/1979 (có mặt) và bà Điểu Thị N1 (vắng mặt); cùng địa chỉ: thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước;

Ông Trần Thanh Đ, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 08/12/2023, Điểu T điều khiển xa mô tô biển số 60V1-4679 chở Điểu C, sinh ngày 05/9/2008 đi chơi. Trên đường đi T rủ C đi trộm cắp tài sản thì C đồng ý, sau đó T chở C vào vườn điều của Nguyễn Văn T1 ở thôn I, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước tìm tài sản của ai để sơ hở sẽ trộm cắp. Tại đây cả hai nhìn thấy 01 máy phát cỏ không rõ nhãn hiệu của Nguyễn Văn T1 để trong vường điều không có người trông coi thì T và C dừng xe đi đến lấy trộm đem đi cất giấu trong bụi cỏ ở gần đó rồi cả hai đi về. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T và C đi đến địa điểm cất giấu máy phát cỏ để lấy đi tiêu thụ thì bị T1 và Trần Thanh Đ phát hiện bắt giữ C cùng tang vật, còn T chạy thoát. Sau đó, T1 đã bàn giao C cùng tang vật cho Công an xã Đ, huyện B giải quyết.

Ngày 11/12/2023, Công an xã Đ đã làm việc với Điểu T thì T thừa nhận hành vi trộm cắp của minh và giao nộp xe mô tô biển số 60V1 – 4679 để phục vụ công tác điều tra.

Theo kết luận định giá tài sản số: 46/KL-HĐĐGTS ngày 26/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B xác định tại thời điểm ngày 08/12/2023, 01 máy phát cỏ không rõ nhãn hiệu đã qua sử dụng, mua vào thời điểm năm 2015 có giá trị: 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Tại Cáo trạng số 26/CT-VKSBGM ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Điểu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Đối với Điểu C, sinh ngày 05/9/2008, tính đến thời điểm thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản, C chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội ít nghiêm trọng, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B không khởi tố Điểu C về tội Trộm cắp tài sản.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Điểu T và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
  • Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại Nguyễn Văn T1 không yêu cầu bị cáo Điểu T bồi thường.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Người bào chữa cho bị cáo Điểu T phát biểu: Thống nhất với tội danh “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập đã truy tố đối với bị cáo Điểu T. Tuy nhiên, về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, là người dân tộc thiểu số, có sự hiểu biết pháp luật thấp, hoàn cảnh gia đình khó khăn theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt để có điều kiện phụ giúp gia đình và như vậy cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đã biết lỗi của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên tham gia quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Xét thấy các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, như lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 11 giờ ngày 08/12/2023, Điểu T điều khiển xa mô tô biển số 60V1-4679 chở Điểu C, sinh ngày 05/9/2008 đi tìm kiếm tài sản có giá trị để trộm cắp. Khi đến vườn điều của Nguyễn Văn T1 ở thôn I, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước thì Điểu T và Điểu C đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 máy phát cỏ không rõ nhãn hiệu của Nguyễn Văn T1 có giá trị tại thời điểm định giá là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Do trước đó Điểu T đã bị Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tuyên xử 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 59/2023/HS-ST ngày 07/9/2023, đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xoá án tích. Đối chiếu hành vi nêu trên của bị cáo với những quy định của pháp luật hiện hành thì hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo Điểu T mặc dù có giá trị dưới 2000.000đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm nên đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như Cáo trạng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Về tình tiết tăng nặng: Không có.
  • Về tính tiết giảm nhẹ: Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số, có trình độ học vấn thấp nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Xét về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Đối với Điểu C, sinh ngày 05/9/2008, tính đến thời điểm thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản, C chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội ít nghiêm trọng, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B không khởi tố Điểu C về tội Trộm cắp tài sản là phù hợp, có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8]. Quan điểm của người bào chữa tại phiên toà: Phù hợp một phần về tội danh với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

[9]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn T1 không yêu cầu bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hai, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Điểu T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đ1 Trọng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Điểu T 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 19/02/2024.

  1. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Điểu T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
  2. Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/6/2024); bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Gia Mập;
  • - Chi cục THADS huyện Bù Gia Mập;
  • - Công an huyện Bù Gia Mập;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tuyết

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Phan Tấn Lãm

Phùng Thị Kim Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Điểu Trọng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger