Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HƯNG YÊN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày: 20 - 5 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Minh Đức; Bà Nguyễn Thị Hệ.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 09/4/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 06/5/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Văn Đ (tên gọi khác: Không), sinh năm 1982. Hộ khẩu thường trú: Thôn S, xã P, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Nơi ở: Thôn B, xã Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 06/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Dương Văn  và bà Đoàn Thị N. Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Vợ là Nguyễn Thị M (đã ly hôn). Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 08/7/2002 bị Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên xử phạt 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đáng phải nộp 260.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự. Đáng bị phạt sung quỹ Nhà nước 60.000.000 đồng. Đáng phải bồi thường cho chị Lê Thị T 4.350.000 đồng. Ngày 09/8/2016 đã chấp hành xong bản án.

Ngày 08/9/2004 bị Chủ tịch UBND tỉnh H ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục trong thời hạn 24 tháng về hành vi nghiện ma túy, trộm cắp, lừa đảo.

Ngày 19/01/2010 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 30/7/2017 đã chấp hành xong bản án.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/01/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1957. Trú tại: Số H đường Đ, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 09/01/2024 Dương Văn Đ đi bộ một mình từ nhà ở thôn B, xã Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên đến Bệnh viện H thuộc phường L, thành phố H để mua ma túy sử dụng. Tại đây Đáng gặp 01 người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) khoảng 50 tuổi, giống người nghiện nên Đ hỏi người đàn ông “anh có hàng không để cho em hai trăm”. Đáng nói như vậy là ý hỏi mua 200.000 đồng ma túy Heroine của người đàn ông. Người đàn ông nói “có” và bảo Đ đưa tiền. Đáng đưa 200.000 đồng cho người đàn ông, anh ta cầm tiền và đưa lại cho Đ 01 gói giấy bạc màu trắng. Đáng cầm 01 gói giấy bạc màu trắng rồi mở ra xem thì thấy bên trong có chứa chất chất màu trắng dạng cục, bột. Đáng biết đó là ma túy Heroine vì trước đó Đ vẫn thường sử dụng. Sau đó, Đ cầm gói ma túy ở trên tay trái định đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 07 giờ 15 phút cùng ngày khi Đ đi đến khu vực ngã tư giao nhau đường P với đường S, phường L thành phố H thì bị Công an thành phố kiểm tra. Đáng biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã tự giác giao nộp cho Công an 01 gói ma túy. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong 01 gói ma túy và đưa Đáng về trụ sở để làm việc.

Kết luận giám định số 173/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong có khối lượng là 0,148g là ma túy loại Heroine.

Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong ghi số 173/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh H, bên trong có 0,123g ma túy loại Heroine; mảnh giấy bạc màu trắng gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định

Quá trình điều tra, Dương Văn Đ đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên phù hợp với vật chứng thu giữ, người làm chứng và các tài liệu thu thập có trong hồ sơ.

Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKS-TPHY ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đã truy tố Dương Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo không thắc mắc nội dung bản cáo trạng, thành khẩn khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên: Giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 173/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,123g ma túy loại Heroine; mảnh giấy bạc màu trắng gói ma túy; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
  2. Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 09/01/2024 tại ngã tư giao nhau giữa đường P với đường S, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, Dương Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,148g Heroine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, thu giữ. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng, không bị oan sai.
  3. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo thật thà, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, sẽ được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
  4. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trên địa bàn, góp phần làm cho tệ nạn ma túy tại địa phương ngày càng gia tăng. Đây là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và hạnh phúc gia đình của chính bị cáo. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân nay lại tiếp tục phạm tội, chứng tỏ con người bị cáo rất khó cải tạo. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
  5. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.
  6. Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong số 173/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,123 gam ma túy loại Heroine là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Mảnh giấy bạc màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong dùng để gói và đựng ma túy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  7. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  8. Đối với người đàn đã mua ma túy cho bị cáo. Bị cáo không biết tên tuổi thật, địa chỉ cụ thể, lần đầu tiên mua ma túy không có ai chứng kiến sự việc. Do đó cơ quan điều tra không xác định được người đàn ông đã bán ma túy là ai nên không có căn cứ để xác minh, xử lý là đúng quy định của pháp luật, nên HĐXX không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Dương Văn Đ 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/01/2024.
  3. Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 173/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,123 gam ma túy loại Heroine; mảnh giấy bạc màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định

    (Vật chứng trên có đặc điểm, trọng lượng theo Quyết định chuyển vật chứng số 28 ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát thành phố H)

  4. Về án phí: Bị cáo Dương Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Dương Văn Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố Hưng Yên;
  • - Công an thành phố Hưng Yên;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - THADS thành phố Hưng Yên;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Thị Kim Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Văn Đ tàng trữ ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger