Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST

Ngày 19-8-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lý Thị Thiên Nga;

Bà Hà Thị Mão.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 20/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 537/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 26 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 611/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 12 ngày 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vi Thị Lệ H; nơi ĐKHKTT: Số B xóm T, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Văn N; nơi cư trú: Số B xóm T, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 12 năm 2023 và bản tự khai, nguyên đơn chị Vi Thị Lệ H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Trần Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 11/8/2016 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng.

Trong thời gian chung sống, anh chị sinh hoạt cùng gia đình anh N tại nhà số B xóm T, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng. Thời gian đầu anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Sau đó, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng trong quan điểm sống và lối sống. Mâu thuẫn kéo dài nên vợ chồng không còn tiếng nói chung. Mặc dù đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên anh chị đã sống ly thân nhiều tháng nay. Nay chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Trần Huy Đ sinh ngày 21/12/2016 và Trần An N1, sinh ngày 06/11/2019. Ly hôn, chị đề nghị Toà án giao con Trần Huy Đ cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Trần An N1 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ về cuộc sống hôn nhân của chị H và anh N. Các lời khai đại diện gia đình cũng như đại diện của chính quyền địa phương đều thể hiện cuộc sống chung của anh chị có nhiều mâu thuẫn, đã sống ly thân.

Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án để bị đơn thực hiện việc trình bày bản tự khai đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn không có mặt và cũng không gửi bản tự khai trình bày ý kiến của mình theo yêu cầu của Tòa án. Tại phiên tòa, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Vi Thị Lệ H vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của các đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn chưa tuân thủ đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu do đương sự cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập trên cơ sở tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử: Chị Vi Thị Lệ H được ly hôn với anh Trần Văn N.

Về nuôi con: Giao con chung là Trần Huy Đ sinh ngày 21/12/2016 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Trần An N1, sinh ngày 06/11/2019 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn, anh chị tự thỏa thuận không xem xét, giải quyết.

Về tài sản: Chị H không yêu cầu phân chia tài sản chung nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị H phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Trần Văn N có nơi cư trú tại số B xóm T, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Nguyên đơn chị Vi Thị Lệ H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trần Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

- Về yêu cầu khởi kiện:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị Lệ H và anh Trần Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký việc kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng: Qua tài liệu trong hồ sơ, biên bản xác minh thể hiện, thời gian đầu khi mới kết hôn chị H và anh N chung sống hạnh phúc, sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Mâu thuẫn kéo dài mặc dù đã được gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả. Từ đó vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Anh N không còn tha thiết níu kéo hạnh phúc thể hiện việc anh đã biết chị H có đơn xin ly hôn nhưng không đến Toà án, không có mặt tại các buổi hoà giải. Hội đồng xét xử nhận thấy tình cảm vợ chồng anh chị đã không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ các Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử chị Vi Thị Lệ H được ly hôn với anh Trần Văn N.

[5] Về việc nuôi con: Chị H và anh N có hai con chung là Trần Huy Đ sinh ngày 21/12/2016 và Trần An N1, sinh ngày 06/11/2019. Hiện cháu Đ đang sinh sống cùng anh N, cháu N1 đang sinh sống cùng chị H. Chị H có nguyện vọng được nuôi cháu N1 và đề nghị giao cháu Đ cho anh N nuôi. Cháu Đ có đơn trình bày nguyện vọng mong được ở với anh N. Xét thấy để bảo đảm cho sự ổn định về mặt tâm sinh lý, sự phát triển về mọi mặt, cần giao cháu Đ cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu N1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định của pháp luật.

[6] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn do chị H tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét giải quyết.

[7] Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xét giải quyết.

[8] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị Lệ H được ly hôn với anh Trần Văn N.
  2. Về con chung: Giao con chung Trần Huy Đ sinh ngày 21/12/2016 cho anh Trần Văn N trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Trần An N1, sinh ngày 06/11/2019 cho chị Vi Thị Lệ H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn do không có yêu cầu nên Toà án không xét giải quyết.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: Chị Vi Thị Lệ H và anh Trần Văn N không yêu cầu nên Toà án không xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003111, ngày 03/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Chị Vi Thị Lệ H và anh Trần Văn N được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Ngô Quyền;
  • - Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
  • - UBND phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, tp Hải Phòng (GCNKH số 58/2016, ngày 11/8/2016);
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

  • Số bản án: 37/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger