|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 37 /2024/HNGĐ-ST
Ngày: 19/7/2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
chung khi ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Nhàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phiếu
Bà Nguyễn Thị Phương Thiệu
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng – Thư ký viên, Toà án nhân dân huyện Nho Quan
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngần– Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024;về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Hoàng Quang V sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn C, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình ( Có mặt)
- Bị đơn: Chị Màn Thị T sinh năm 1991; địa chỉ: phố T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình ( Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, Nguyên đơn anh Hoàng Quang V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: anh V và chị T được tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đăng ký kết hôn ngày 04/5/2015 tại UBND xã Y, huyện N, tỉnh Ninh Bình Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống hòa thuận hạnh phúc khoảng thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp. Thường xuyên chửi nhau xúc phạm nhau dẫn đến khoảng tháng 01/2023 vợ chồng anh chị sống ly thân không còn ai quan tâm đến nhau nữa. Xét thấy nay mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng không còn ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nên anh làm đơn này đề nghị Tòa án cho anh được ly hôn với chị Màn Thị T.
Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung là cháu Hoàng Thị Bảo D sinh ngày 17/3/2016 và cháu Hoàng Minh A sinh ngày 17/9/2019. Hiện nay hai cháu đang ở với chị T. Khi ly hôn anh V có nguyện vọng được nuôi cháu Hoàng Minh A đến khi cháu A đủ 18 tuổi và chị T chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Hoàng Thị Bảo D đến khi cháu Dương đ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: anh chị đều nuôi con nên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và công nợ chung: Tự thỏa thuận nên anh V không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa anh Hoàng Quang V vẫn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Màn Thị T vì tình cảm anh chị không còn. Về con chung anh đề nghị được nuôi dưỡng chăm sóc cháu Hoàng Minh A đến khi cháu A đủ 18 tuổi và chị T chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Hoàng Thị Bảo D đến khi cháu Dương đ 18 tuổi và không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và công nợ chung anh V không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, các tài liệu,chứng cứ có tại hồ sơ bị đơn Màn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Như anh V trình bày thời gian và địa điểm đăng ký kết hôn là đúng. Sau khi cưới vợ chồng anh chị sống hạnh phúc được một thời gian đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do chửi bới, xúc phạm nhau. Do mâu thuẫn trầm trọng nên đến tháng 01 năm 2023 thì vợ chồng chị đã sống ly thân không còn quan tâm và có trách nhiệm gì với nhau. Nay anh V làm đơn xin ly hôn với chị. Nguyện vọng của chị xin được nuôi cả hai con chung là cháu D và cháu Minh A thì chị đồng ý ly hôn với anh Hoàng Quang V còn nếu chia con mỗi người nuôi một cháu thì chị không đồng ý ly hôn với anh Hoàng Quang V.
- Về con chung: Vợ chồng anh chị có hai con chung là cháu Hoàng Thị Bảo D sinh ngày 17/3/2016 và cháu Hoàng Minh A sinh ngày 17/9/2019. Hiện nay hai cháu đang ở chị. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi cả hai cháu Hoàng Thị Bảo D và cháu Hoàng Minh A đến khi các cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung
- Về tài sản chung và công nợ chung: Tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết
Tại phiên tòa bị đơn chị Màn Thị T đồng ý ly hôn với anh Hoàng Quang V; Về con chung: Chị T nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai cháu Hoàng Thị Bảo D và cháu Hoàng Minh A đến khi các cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung .Tài sản chung, công nợ chung: tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, chị Màn Thị T không có yêu cầu phản tố hay đề nghị gì khác.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia tố tụng tại phiên tòa giải quyết vụ án sơ thẩm phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84; Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 5 Điều 27, Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Quang V. Xử cho anh Hoàng Quang V được ly hôn đối với chị Màn Thị T.
- Về con chung: Anh V và chị T có 02 con chung là cháu Hoàng Thị Bảo D sinh ngày 17/3/2016 và cháu Hoàng Minh A sinh ngày 17/9/2019. Giao cháu Hoàng Thị Bảo D sinh ngày 17/3/2016 cho chị Màn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Dương đ 18 tuổi. Giao cháu Hoàng Minh A sinh ngày 17/9/2019 cho anh Hoàng Quang V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu A đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, công nợ chung: không yêu cầu, không xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: anh Hoàng Quang V chịu toàn bộ án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: không yêu cầu. Tòa án không xem xét
Anh Hoàng Quang V và chị Màn Thị T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định các vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau:
[1].Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn; bị đơn có nơi cư trú tại huyện N, tỉnh Ninh Bình nên Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2].Về áp dụng pháp luật nội dung:
[2.1].Về quan hệ hôn nhân: anh Hoàng Quang V và chị Màn Thị T được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 04/5/2015 tại UBND xã Y, huyện N, tỉnh Ninh Bình trên cơ sở tự nguyện đây là cuộc hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01 ngày 04/5/2015 đây là hôn nhân hợp pháp theo Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
Sau khi kết hôn vợ chồng anh V và chị T chung sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng 1 thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị không có tiếng nói chung. Trong thời gian sinh sống hai vợ chồng anh chị mâu thuẫn càng trầm trọng khiến không khí gia đình căng thẳng. Đến đầu năm 2023 anh V và chị T đã sống ly thân cho đến nay mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng không còn ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa nên anh V đề nghị xin ly hôn chị T. Chị T cũng trình bày sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn và nguyên nhân, thời gian mâu thuẫn giống như anh V đã trình bày. Nay anh V xin ly hôn tại phiên tòa chị đồng ý ly hôn với anh V. Chính quyền địa phương nơi anh V và chị T đăng ký kết hôn và cư trú cũng xác nhận có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện N, Sau khi đăng ký kết hôn anh V và chị T sinh sống tại xã Y, huyện N đến năm 2016 thì chuyển về thị trấn N, huyện N cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng anh V, chị T thì địa phương không nắm rõ nhưng thực tế khi sinh sống ở địa phương anh V, chị T có xảy ra mâu thuẫn, xích mích, cãi chửi xúc phạm lẫn nhau. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận đơn khởi kiện của anh V, ghi nhận thỏa thuận thuận tình ly hôn của anh Hoàng Quang V và chị Màn Thị T là phù hợp Điều 51, Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2].Về con chung: Anh Hoàng Quang V và chị Màn Thị T có 02 con chung là cháu Hoàng Thị Bảo D sinh ngày 17/3/2016 và cháu Hoàng Minh A sinh ngày 17/9/2019 hiện nay hai cháu đang ở với mẹ là chị Màn Thị T ở thị trấn N, huyện N. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Hoàng Quang V có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Hoàng Minh A sinh ngày 17/9/2019 và giao cháu Hoàng Thị Bảo D sinh ngày 17/3/2016 cho chị Màn Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Quá trình giải quyết và tại phiên tòa chị T trình bày chị T có nguyện vọng được nuôi hai cháu D và cháu A vì anh Vũ công v thường xuyên đi làm nên chị không yên tâm do 02 cháu còn nhỏ đang học và cùng muốn sống với nhau nên không muốn tách các con ra và các cháu cần có sự chăm sóc của mẹ. Hôi đồng xét xử thấy về điều kiện và khả năng nuôi con của hai anh chị là như nhau, đều có đủ điều kiện để được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Anh V hiện đang làm công an xã G; chị T đang làm lao động tự do tại thị trấn N, Cả hai anh chị đều có thu thập và chỗ ở ổn định, ông bà sẵn sàng giúp đỡ trong việc chăm sóc con cái.
Xét thấy, nguyện vọng nuôi con của anh chị là hoàn toàn chính đáng, tuy nhiên việc giao con cho ai nuôi dưỡng phải đảm bảo được môi trường và điều kiện phát triển tốt nhất cho con, cháu D hiện nay đã hơn 08 tuổi nên tại biên bản lấy lời khai của cháu Dương đ1 ngày 22/5/2024, cháu D có trình bày nguyện vọng muốn được ở với mẹ là chị Màn Thị T vì cháu cho rằng mẹ cháu gần gũi cháu hơn vì bố cháu có cô gái khác ở bên ngoài nên cháu xin tòa án cho cháu ở với mẹ. Còn đối với cháu A do chưa đủ 07 tuổi nên không thực hiện việc hỏi ý kiến của cháu A. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, nguyện vọng được nuôi con của anh V và chị T là chính đáng tuy nhiên để đảm bảo quyền lợi và điều kiện sống của các cháu được học tập và giáo dục tốt nhất. Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao cho chị Màn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng Thị Bảo D đến khi cháu đủ 18 tuổi và giao cho anh Hoàng Quang V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng Minh A đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng: Anh Vũ, chị T không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.3].Về tài sản chung, công nợ chung: Anh V không yêu cầu do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[3].Về án phí hôn nhân và gia đình: Anh Hoàng Quang V chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 5, Điều 27, Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận thỏa thuận thuận tình ly hôn giữa anh Hoàng Quang V và chị Màn Thị T.
- Về con chung: Giao cho anh Hoàng Quang V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng Minh A sinh ngày 17/9/2019 đến khi cháu A đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Tòa án không xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Giao cho chị Màn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng Thị Bảo D sinh ngày 17/3/2016 đến khi cháu Dương đ 18 tuổi.
Anh Hoàng Quang V và chị Màn Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Hoàng Quang V, chị Màn Thị T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản chị T, anh V thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Anh Hoàng Quang V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/23/0001190 ngày 19 tháng 3 năm 2024.
Án xử công khai sơ thẩm chị Màn Thị T, anh Hoàng Quang V có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Thị Thanh Nhàn |
Bản án số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 19/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
- Số bản án: 37/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vợ chông mâu thuẫn
