Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HSST

Ngày: 19 – 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Nguyễn Việt Hưng;
  • 2/ Ông Phạm Việt Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Thành Công – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã Y huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/TLST-HS 04/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXX ngày 08/4/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Mạnh N, tên gọi khác: Không.Giới tính: Nam.

Sinh ngày: 24/12/1990;

Nơi cư trú: xóm T, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Làm ruộng. Con ông: Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1958; con bà: Nông Thị T, sinh năm 1959. Có vợ là Phùng Thị H1, sinh năm 1993 (Đã ly hôn), hiện cư trú tại xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; có 01 con sinh năm 2012. Bị cáo có 03 anh, em ruột, N là con thứ ba.

Tiền án, tiền sự: Không.

Biện pháp ngăn chặn: Nguyễn Mạnh N bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

Có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1958; Có mặt tại phiên tòa

Nơi cư trú: Xóm T, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

* Người chứng kiến:

Chị Nguyễn Thu H2, sinh năm 1975;

Nơi cư trú: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 28/12/2023, Công an xã N – huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc có 01 người đàn ông là công dân xã N đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu sơn xanh – đen, BKS: 20L6 -1329 đi từ xã N hướng ra Quốc lộ C có biểu hiện phạm tội về ma túy. Tổ Công tác Công an xã N phối hợp với Công an các xã ở dọc tuyến đường Q để xác minh. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 28/12/2023, Tổ công tác Công an xã N phối hợp với Công an xã B, huyện Đ đến khu vực đường Quốc lộ 37 đoạn thuộc xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện 01 người đàn ông (có đặc điểm nêu trên) nên yêu cầu người đàn ông trên dừng lại để kiểm tra hành chính, người đàn ông này chấp hành, khai tên là Nguyễn Mạnh N và tự giác lấy từ túi áo khoác bên trái của N đang mặc trên người ra 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, N khai là chất ma túy loại Heroine do N mua về để sử dụng cho bản thân.

Tổ công tác Công an xã N tiến hành thu giữ vật chứng nêu trên gồm: 01 gói giấy mầu trắng bên trong có chất bột màu trắng (Niêm phong vào phong bì ký hiệu N), 01 xe mô tô Wave, màu xanh đen BKS 20L6 – 1329, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang rồi chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để giải quyết theo quy định.

Hồi 21 giờ 00 phút ngày 28/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với N tại xóm T, xã N, huyện Đ. Kết quả không phát hiện thu giữ đồ vật gì liên quan đến vụ án.

Hồi 23 giờ 15 phút ngày 28/12/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Đ phối hợp cùng Phòng K - Công an tỉnh T (PC09) đã tiến hành mở niêm phong vật chứng ký hiệu N cân xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Nguyễn Mạnh N. Kết quả: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu N lên cân điện tử có khối lượng là: 0,377 gam (đã trừ bì), lấy tất cả số chất rắn màu trắng có trong phong bì ký hiệu N để làm mẫu giám định, được cho vào phong bì niêm phong có ký hiệu N1 dán kín các mép. Mẫu giám định trong phong bì niêm phong ký hiệu N1 được gửi giám định tại phòng PC09 – Công an tỉnh T. Vỏ giấy gói và vỏ bì niêm phong ký hiệu N2 phục vụ công tác điều tra.

Ngày 28/12/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ ra Quyết định trưng cầu giám định số: 402/QĐ - HSKTMT đối với mẫu niêm phong ký hiệu N1 thu của Nguyễn Mạnh N, yêu cầu giám định để xác định: Mẫu giám định có phải là

chất ma túy, tiền chất dùng vào sản xuất trái phép chất ma túy không? Loại chất ma túy? Khối lượng thu giữ ban đầu là bao nhiêu?

Tại Bản kết luận giám định số: 144 ngày 05/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T, kết luận:

- “Số chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu N1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (heroin), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất. Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,377 gam”;

H3 lại đối tượng giám định gồm: Mẫu vật và vỏ bao gói mẫu được hoàn lại theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định./.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Mạnh N khai nhận:

Là người nghiện chất ma túy, Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 28/12/2023, Nam một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh – đen, BKS: 20L6-1329 (xe Nam mượn của ông Nguyễn Mạnh H là bố đẻ của N) đến xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua chất ma túy. Đến nơi, N gặp và mua được 01 gói chất ma túy, loại Heroine, được gói bằng giấy mầu trắng, giá 500.000 đồng của một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết nhân thân, lai lịch). Sau khi mua được ma túy, N điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi đi đến khu vực Gara ô tô X thuộc xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì bị Tổ công tác Công an xã N phối hợp cùng Công an xã B – huyện Đ kiểm tra hành chính, N đã tự nguyện giao nộp toàn bộ số ma túy vừa mua được cho Cơ quan Công an. Do vậy, việc cất giữ ma túy và bị bắt quả tang là hoàn toàn đúng hành vi đã thực hiện.

Vật chứng của vụ án: 02 (hai) bì niêm phong ký hiệu N1, N2 còn nguyên tình trạng niêm phong, bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ giấy gói mẫu; 01 xe mô tô BKS: 20L6-1329, số máy: VTTJL1P52FMH6003555, số khung: RRKWCHRUM5X003555 đăng ký mang tên ông Nguyễn Quang H4, sinh năm 1972 đã bán cho ông Nguyễn Mạnh H. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý khi xét xử vụ án.

Với nội dung nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 40/CT - VKSÐT ngày 02/4/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ đã truy tố Nguyễn Mạnh N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng.

Về nhân thân: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Tình tiết giảm nhẹ được hưởng: Bị cáo được hưởng 01 tỉnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng: điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh N từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy: Số Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu.

Trả lại ông Nguyễn Mạnh H chiếc xe mô tô BKS 20L6 – 1329.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng lượng khoan hồng với mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, sớm trở về với gia đình.

Kết thúc phần tranh tụng bị cáo và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự mà pháp luật quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

[1.2].Người tham gia tố tụng là người chứng kiến vắng mặt mặt tại phiên toà không có lý do. Hội đồng xét xử thấy rằng, trong hồ sơ đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ; Kiểm sát viên, bị cáo cũng đề nghị xét xử vắng mặt người chứng kiến. Xét thấy, việc người tham gia tố tụng nêu trên vắng mặt không gây trở ngại cho quá trình xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều

293 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định của pháp luật.

[2]. Đánh giá về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Mạnh N vẫn giữ nguyên lời khai như tại cơ quan điều tra, bị cáo xác định là người nghiện ma tuý, ngày 10 giờ 30 phút ngày 28/12/2023, bị cáo mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh – đen, BKS:20L6-1329 của bố đẻ là ông Nguyễn Mạnh H, một mình điều khiển xe mô tô đến xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua chất ma túy về để sử dụng cho bản thân. Đến nơi, N gặp và mua được 01 gói chất ma túy, loại Heroine, được gói bằng giấy mầu trắng, giá 500.000 đồng của một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết nhân thân, lai lịch). Sau khi mua xong, bị cáo điều khiển xe về nhà để sử dụng. Tuy nhiên, khi đi đến khu vực Gara ô tô X thuộc xóm B, xã B thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Việc bắt quả tang, cân trọng lượng ma túy được 0,377 gam, kết quả giám định là ma túy loại Heroine bị cáo xác định hoàn đúng sự thật và được chứng kiến cân trọng lượng cũng như thông báo kết luận giám định về loại, chất ma túy. Quá trình thực hiện việc mua ma tuý, không có đồng phạm cùng tham gia thực hiện với bị cáo.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Mạnh N tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Mạnh N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,377gam ma túy loại Heroine. Bị cáo cũng xác định mua ma tuý để phục vụ nghiện, không có mục đích mua bán trái phép.

[3]. Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Nguyễn Mạnh N là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện nên hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Viện kiểm sát nhân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Cụ thể nội dung Điều 249 Bộ luật Hình sự có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...

c) Heroine, ....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam....”

[4]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng thấy rằng:

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi (Heroine) bị cáo tàng trữ được giám định có tên khoa học là D, được

quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất tuyệt đối cấm hoặc chỉ sử dụng trong y học, được quy định 4 danh mục trong Nghị định.

Ma tuý là chất gây nghiện nguy hiểm, là tệ nạn xã hội, huỷ hoại sức khoẻ của con người, là nguyên nhân phát sinh căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS. Cũng từ tệ nạn nghiện hút ma túy mà có nhiều người dân lương thiện đã trở thành những người phạm tội mất hết cả nhân tính. Nguy hiểm hơn là hiện nay, tệ nạn nghiện hút ma túy đã và đang len lỏi vào cả học đường ở các cấp, dẫn đến tình trạng phạm tội ở một số thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên có chiều hướng gia tăng. Đứng trước tình hình đó, Đ và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản, mở các cuộc vận động, tuyên truyền toàn dân tham gia tích cực đấu tranh, ngăn chặn tệ nạn mua bán và nghiện hút ma túy làm trong sạch xã hội. Bị cáo là người nghiện nên đã bất chấp vi phạm mua ma túy chỉ để phục vụ nhu cầu cá nhân. Việc Các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Đ lựa chọn làm án trọng điểm mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai tại địa phương ngày hôm nay là cần thiết, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật đối với loại tội phạm này. Đồng thời phổ biến, giáo dục pháp luật rộng rãi trong nhân dân, phục vụ cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và giáo dục riêng đối với người vi phạm pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn, hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5]. Về hình phạt cần áp dụng: Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người trưởng thành, nhận thức đầy đủ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, hơn nữa để mang tính giáo dục và răn đe đối với người phạm tội, cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo một thời gian nhất định để làm gương và răn đe chung.

[6].Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7]. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã trình bày luận tội đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo và đề xuất về xử lý vật chứng. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và diễn biến, kết quả tranh tụng tại phiên tòa cũng như nhận định của Hội đồng xét xử. Vì vậy, được chấp nhận.

[8]. Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 20L6- 1329 do bị cáo mượn của ông Nguyễn Mạnh H (bố đẻ). Tại phiên tòa ông H xác định xe của ông mua nhưng chưa làm thủ tục sang tên, cho bị cáo N mượn nhưng không biết bị cáo sử dụng đi mua ma túy, ông đề nghị được trả lại làm phương tiện đi lại, quá trình điều tra xác định là của ông H cho bị cáo mượn dùng làm phương tiện đi mua ma túy. Chiếc xe nêu trên không phải là vật chứng của vụ án khác. Do đó, cần thiết trả lại ông H quản lý và sử dụng.

Vật chứng khác: Toàn bộ số ma túy loại Heroine còn lại sau giám định là 0,326 gam mẫu N1 và vỏ bao gói mẫu, các vật chứng khác đã thu giữ cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy theo quy định.

[9]. Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

[10]. Các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số H, Nguyễn Mạnh N khai mua của người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực xóm B, xã B, huyện Đ với số tiền 500.000 đồng. Do không xác định được lai lịch địa chỉ của người bán ma túy cho N nên không có căn cứ điều tra, xử lý người bán ma túy nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 20L6 - 1329 của ông Nguyễn Mạnh H để đi mua ma túy sử dụng. Qúa trình điều tra xác định ông H không biết việc N điều khiển xe mô tô làm phương tiện đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không xử lý đối với ông H là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt chính: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Mạnh N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.

Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 28/12/2023.

* Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng Hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Mạnh N 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo Nguyễn Mạnh N.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

4.1.Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong ký hiệu N1, N2 còn nguyên tình trạng niêm phong (Theo biên bản đóng gói, niêm phong giao nhận lại đối tượng giám định ngày 06/01/2024, giữa Phòng K Công an tỉnh T với Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ ghi: Hoàn lại 0,362 gam mẫu N1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu được niêm phong ký hiệu N1);

4.2. Trả lại ông Nguyễn Mạnh H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave , BKS 20L6 – 1329.

(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Đ với Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ ngày 03/4/2024).

5. Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, Đ1 a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH13 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh N phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và người liên quan tại phiên tòa. Báo cho biết bị cáo và người liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an huyện Đại Từ;
  • - VKS nhân dân huyện Đại Từ;
  • - Thi hành án dân sự huyện Đại Từ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo; Trại tạm giam Công an tỉnh TN;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hà

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

N1

Nguyễn Thị Thu H5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HSST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 37/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo nghiện ma túy mua khối lượng 0.377gam ma túy loại Heroine sử dunngj bị bắt quả tang, đưa ra xét xửtại địa phương
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger