TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2024/HS-ST
Ngày 18/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Nưm.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Chu Thị Vân.
2. Bà Phạm Thị Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Trịnh Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Giang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 15 tháng 7 năm 2024 đến ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 01/2024/HSST-QĐ ngày 11/7/2024 đối với bị cáo:
A T, sinh ngày 14 tháng 4 năm 2006 tại Kon Tum; Nơi thường trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; Nơi ở hiện tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Ba Na; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông A T1, sinh năm 1972 và bà Y L, sinh năm: 1980; Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Ngày 05/01/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, mức án 06 tháng Cải tạo không giam giữ.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 13/5/2024 đến nay có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đặng Thị Kim N – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K. Có mặt.
- Bị hại:
+ Anh Nguyễn Vũ H, sinh năm 1983; địa chỉ: TDP C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt)
+ Anh A H1, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Ông A T1, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 14/02/2024, anh Nguyễn Vũ H rời khỏi nhà tại Tổ dân phố C, thị trấn Đ cùng gia đình đi chúc Tết. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, A T đang ở tại dãy trọ cạnh nhà anh H thuộc nảy sinh ý định đột nhập vào nhà ông H để trộm cắp tài sản, A T trèo qua tường gạch đột nhập vào nhà ông H và lấy 01 (một) chiếc máy tính xách tay để trên bàn trong phòng khách cùng số tiền 397.000đ (Ba trăm chín mươi bảy ngàn đồng) ở ngăn kéo bàn. Sau đó, A T tẩu thoát theo lối đột nhập rồi về phòng trọ cất máy tính và số tiền trên trong phòng trọ của mình. Cùng ngày, ông H về nhà phát hiện bị mất số tài sản trên nên đã trình báo Công an thị trấn Đ. Qua trích xuất camera phát hiện người đột nhập vào trộm cắp tài sản có đặc điểm giống A T. Tại Công an thị trấn Đ, A T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình và giao nộp 01(một) máy tính xách tay, số tiền 397.000đ (Ba trăm chín mươi bảy ngàn đồng) tiền mặt cho Công an thị trấn Đ. Ngày 16/02/2024, Công an thị trấn Đ chuyển hồ sơ vụ việc cùng đồ vật có liên quan đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐG ngày 12/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Giá trị của tài sản 01(một) máy tính xác tay hãng DELL, nhãn hiệu INSPIRON 5567, RAM 8GB, chip I i7-7500U kèm theo cục sạc là 6.250.000đ (Sáu triệu hai trăm năm mươi triệu đồng).
Vụ thứ hai: Vào khoảng 09 giờ 20 phút ngày 17/4/2024, anh A H1 điều khiển xe mô tô biển số: 82B1-618.26, từ nhà đi làm rẫy, khi đi đến đoạn bờ hồ thủy điện P thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum, A HơiH để xe mô tô trên ở đây và đi thuyền qua bên kia bờ hồ thuộc xã H, huyện S, tỉnh Kon Tum để làm rẫy. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, A T nhìn thấy chiếc xe mô tô đang dựng ở gần bờ hồ không có người trông coi nên nảy sinh ý định thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. A T đi đến nhà A T2 (Sinh năm 2005; Trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) mượn 01(một) thanh lục giác hình chữ L bằng kim loại. Sau đó, A T quay trở lại nơi dựng xe mô tô biển số: 82B1-618.26 và dùng thanh lục giác tháo phần vỏ ở một bên hông xe gần bộ đề khởi động xe, rồi nối dây điện và nổ xe điều khiển đến khu vực rẫy cà phê của bà Y K thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Tại đây, A T tháo các phần vỏ của xe mô tô và vứt lại. Đến khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, A H1 đi làm về không thấy xe mô tô và đến Công an xã Đ trình báo vụ việc. Tại Công an xã Đ, A T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình và thu giữ 01 (một) xe mô tô biển số 82B1-618.26 (kèm theo các phần vỏ bị tháo rời khỏi xe mô tô); 01 (một) thanh lục giác hình chữ L bằng kim loại. Ngày 22/4/2024, Công an xã Đ chuyển hồ sơ vụ việc cùng tang vật có liên quan đến Cơ quan điều tra Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐG ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Giá
trị của tài sản: 01 (một) xe mô tô biển số 82B1-618.26, số khung C6106Y022299, số máy 5C61022299, nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRUS vào tháng 4/2024 được xác định thành tiền là 9.000.000đ (Chín triệu đồng chẵn).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, A T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp về mặt thời gian, nội dung diễn biến hành vi phạm tội, lời khai của bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; biên bản khám nghiệm hiện trưởng và các đồ vật, tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã ra quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị cáo đối với A T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ các đồ vật, tài liệu:
- + 01 (một) chiếc máy tính xách tay hãng DELL, nhãn hiệu INSPIRON 5567, RAM 8GB, chip I i7-7500U (kèm theo cục sạc);
- + Số tiền: 397.000đ (Ba trăm chín mươi bảy ngàn đồng);
- + 01 (một) xe mô tô biển số 82B1-618.26, số khung C6106Y022299, số máy 5C61022299, nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRUS, phương tiện đã qua sử dụng, (kèm theo các phần vỏ bị tháo rời khỏi xe mô tô);
- + 01 (một) thanh lục giác hình chữ L bằng kim loại, kích thước (8,5x3,5) cm, đường kính 0,5cm.
Tại Bản Cáo trạng số 30/CT-VKSĐH ngày 13/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo A T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo A T về tội danh như cáo trạng truy tố.
Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 90, Điều 91 và Điều 98; Điều 101; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1, 2 Điều 52, khoản 2 Điều 56 Bộ Luật hình sự. Xử phạt bị cáo A T từ 12 (Mười hai) đến 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt còn lại chưa chấp hành của Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 05/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại là anh Nguyễn Vũ H và anh A H1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu dân sự gì.
- Về án phí: Bị cáo A T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo về hành vi phạm tội của mình là đúng với nội dung truy tố của bản Cáo trạng, bị cáo không có khiếu nại gì đối với kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Đ. Không tự bào chữa cho hành vi của mình và không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo A T trình bày: Thống nhất với tội danh và khung hình phạt Viện kiểm sát đã truy tố. Về hành vi phạm tội của bị cáo đã rõ. Về dân sự, bị hại anh Nguyễn Vũ H và anh A H2 không có yêu cầu gì. Về tình tiết giảm nhẹ, người bào chữa thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện
kiểm sát, tuy nhiên, bị cáo A T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là người dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Hoàn cảnh gia đình bị cáo cũng khó khăn, cha mẹ bị cáo là người dân lao động thường xuyên đi làm ở xa nhà nên thiếu sự quan tâm giáo dục bị cáo ở lứa tuổi mới lớn. Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản đã được Cơ quan điều tra trả lại cho bị hại. Khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo chưa thành niên nên đề nghị áp dụng các hình phạt đối với người chưa thành niên. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91 và Điều 98; Điều 101 để xử phạt bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa bị cáo A T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định:
Bản thân A T đang chờ thi hành 06 tháng Cải tạo không giam giữ theo Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 05/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 14/02/2024 A T thực hiện trộm cắp 01 (một) chiếc máy tính xách tay trị giá 6.250.000₫ (Sáu triệu hai trăm năm mươi triệu đồng) và số tiền: 397.000đ (Ba trăm chín mươi bảy ngàn đồng) của anh Nguyễn Vũ H. Đến ngày 17/4/2024 A T tiếp tục trộm cắp 01 (một) xe mô tô biển số 82B1-618.26 trị giá 9.000.000₫ (Chín triệu đồng) của anh A H1. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là: 15.647.000đ (Mười lăm triệu sáu trăm bốn mươi bảy ngàn đồng). Vì vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận bị cáo A T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ. Bị cáo A T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật với mục đích tư lợi cá nhân nên bị cáo lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác với lỗi
cố ý trực tiếp, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, tạo tâm lý hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản và tác động xấu đến đời sống của nhân dân tại địa phương.
[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo A T có nhân thân xấu. Ngày 05/01/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, mức án 06 tháng Cải tạo không giam giữ. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, A T chưa đủ 18 tuổi, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự thì A T được coi là không có án tích.
Thời gian bị cáo đã chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 05/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà về tội “Trộm cắp tài sản” là 02 (Hai) tháng 20 (Hai mươi) ngày (tính từ ngày Cơ quan Thi hành án Hình sự Công an huyện Đ nhận được Quyết định Thi hành án ngày 22/02/2024 đến ngày 12/5/2024). Còn lại 03 (Ba) tháng (Mười) ngày chưa chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiện hình sự: Bị cáo A T phạm tội 02 lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo A T đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho các bị hại và bị hại anh A H2 đã viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Vũ H và anh A H2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tại phiên tòa ngày hôm nay, ông A T1 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền trên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại các vật chứng cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Vũ H, anh A H2 và anh A T2 tiếp tục quản lý, sử dụng. Xét thấy, việc xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ của Cơ quan điều tra là phù hợp với quy định tại Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo A T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 90, Điều 91 và Điều 98; Điều 101; điểm
b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56 Bộ Luật hình sự.
Xử phạt bị cáo A T 12 (Mười hai) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt còn lại chưa chấp hành của Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 05/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà về tội “Trộm cắp tài sản” là 03 (Ba) tháng 10 (Mười) ngày cải tạo không giam giữ, chuyển đổi thành 01 (Một) tháng 03 (Ba) ngày tù.
Buộc bị cáo A T phải chấp hành hình phạt chung là 13 (Mười ba) tháng 03 (ba) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo ngày 13/5/2024.
2. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo A T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (18/7/2024). Riêng bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Quách Văn Nưm |
CÁC THÀNH VIÊN CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Các hội thẩm nhân dân | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
Quách Văn Nưm |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: A Thoan trộm phạm tội cắp tài sản
