Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOẰNG HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 18/7/2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Lê Thị Phương

- Các Hội thẩm nhân dân.

1. Ông Đào Duy Chuyên

2. Bà Trịnh Thị Loan

- Thư ký phiên tòa:

Ông Nguyễn Xuân Dân - Thư ký Tòa án Tòa án ND huyện Hoằng Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát ND huyện Hoằng Hóa tham gia phiên toà:

Bà Hoàng Thị Hoa, Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 154/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXX-ST ngày 03 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1983. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Địa chỉ: thôn X, xã Hoằng X, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1980. Vắng mặt
  4. Địa chỉ: Thôn X, xã Hoằng X, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/5/2024, bản tự khai ngày 05/6/2024 nguyên đơn chị Nguyễn Thị L thể hiện:

Tôi (L) và anh Nguyễn Văn M tự nguyện kết hôn với nhau năm 2004 được UBND xã Hoằng X, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng sống với nhau bình thường đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau. Từ năm 2019 cho đến nay vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên tôi làm đơn này đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh M.

Về con: Vợ chồng tôi có 03 con chung cháu tên là Nguyễn Thị Huyền Lê, sinh ngày 03/11/2005; Nguyễn Long, sinh ngày 19/4/2012; Nguyễn Hào, sinh ngày 23/10/2018. Hiện nay cháu Nguyễn Thị Huyền Lê đã trưởng thành nên chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu Long và cháu Hào đang ở với anh M từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay ly hôn tôi có nguyện vọng giao hai cháu cho anh M tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Tôi có nguyện vọng cấp dưỡng nuôi hai cháu mỗi cháu 1.000.000đồng/ tháng( hai cháu 2.000.000 đồng).

Về tài sản và công nợ: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn M: Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng anh M vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã giao thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho ông Nguyễn Văn Cấp ( bố đẻ anh M) và ông Cấp cam đoan có trách nhiệm giao thông báo lại cho anh M.

Tại biên bản ghi lời khai của ông Nguyễn Văn C ngày 07/6/2023 thể hiện:

Con tôi là Nguyễn Văn M và chị Nguyễn Thị L tự nguyện kết hôn được UBND xã Hoằng X cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2004. Sau khi cưới được một thời gian thì vợ chồng sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm đến năm 2019 vợ chồng sống ly thân cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị L làm đơn xin ly hôn, tôi sẽ có trách nhiệm thông báo cho anh M(hiện nay anh M là lao động tự do thường xuyên đi về nhà, anh cũng đã biết chị L làm đơn xin ly hôn). Anh có trao đổi với tôi quan điểm của anh đồng ý ly hôn. Nay tôi sẽ nhận thay các văn bản tố tụng cho con trai tôi và cam đoan giao tận tay cho anh M.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn M có 03 con chung cháu tên là Nguyễn Thị Huyền Lê, sinh ngày 03/11/2005; Nguyễn Long, sinh ngày 19/4/2012; Nguyễn Hào, sinh ngày 23/10/2018. Hiện nay cháu Nguyễn Thị Huyền Lê đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu Long và cháu Hào đang ở với anh M từ khi chồng sống ly thân cho đến nay. Nay ly hôn anh M có nguyện vọng nuôi hai cháu và yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu 1.000.000đồng/ tháng( hai cháu 2.000.000 đồng).

Về tài sản: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai của cháu Nguyễn Long: Cháu có nguyện vọng được ở với bố.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

  • + Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, đảm bảo trình tự, thủ tục từ khi thụ lý, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của BLTTDS. Bị đơn anh Nguyễn Văn M chưa thực thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
  • Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn M.
  • Về con chung: Công nhận chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn M có 03 con chung cháu tên là Nguyễn Thị Huyền Lê, sinh ngày 03/11/2005; Nguyễn Long, sinh ngày 19/4/2012; Nguyễn Hào, sinh ngày 23/10/2018. Hiện nay cháu Nguyễn Thị Huyền Lê đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu Long và cháu Hào đang ở với anh M từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Chị L có nguyện vọng tiếp tục giao hai cháu cho anh M nuôi dưỡng . Vì vậy, giao cháu Nguyễn Long, Nguyễn Hào cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh M cho mỗi cháu 1.000.000đồng/ tháng( hai cháu 2.000.000 đồng).
  • Về tài sản, công nợ: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
  • Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 BLTTDS 2015; Điều 24, Điểm a khoản 5; điểm khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị L khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Văn M và xin được nuôi con chung. Căn cứ vào quy định tại Điều 68 BLTTDS xác định chị Nguyễn Thị L là nguyên đơn, anh Nguyễn Văn M là bị đơn.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Văn M có địa chỉ tại xã Hoằng Xuân, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

[1.3] Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị L khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Văn M và đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con chung nên được xác định là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc lĩnh vực dân sự.

Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân dẫn đến tình trạng tranh chấp mâu thuẫn theo quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự, chính quyền địa phương xã Hoằng X xác nhận: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn M tự nguyện kết hôn được UBND xã Hoằng X cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2004, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn địa phương không nắm bắt được. Vợ chồng anh chị có 03 con chung cháu tên là Nguyễn Thị Huyền Lê, sinh ngày 03/11/2005; Nguyễn Long, sinh ngày 19/4/2012; Nguyễn Hào, sinh ngày 23/10/2018.

Tại phiên tòa ngày 16/7/2024, bị đơn anh Nguyễn Văn M vắng mặt không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nên HĐXX hoãn phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 233, 235 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, anh Mạnh vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn M kết hôn với nhau vào năm 2004 trên cơ sở tự nguyện, do Ủy ban nhân dân xã Hoằng X, huyện Hoằng Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình, là hôn nhân hợp pháp.

Vợ chồng anh chị sống với nhau hòa thuận một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, không thể hòa giải được. Chị L có nguyện vọng xin được ly hôn anh M. Anh M đồng ý ly hôn. Do đó, HĐXX xét thấy tình cảm của anh, chị thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng Điều 51,56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị L là cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn M là phù hợp với tình trạng hôn nhân của anh chị.

[2.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn M có 03 con chung cháu tên là Nguyễn Thị Huyền Lê, sinh ngày 03/11/2005; Nguyễn Long, sinh ngày 19/4/2012; Nguyễn Hào, sinh ngày 23/10/2018.

Xét yêu cầu nuôi con của anh Nguyễn Văn M: Xét thấy, yêu cầu nuôi con của anh M là phù hợp vì từ khi vợ chống sống ly thân cháu Long và cháu Hào ở cùng với anh, anh đảm bảo cho cháu ăn học và phát triển; Tại bản khai của cháu Nguyễn Long cháu có nguyện vọng được ở với bố( M). Chị L cũng đồng ý giao hai cháu cho anh M nuôi dưỡng. Do đó, chấp nhận yêu cầu của anh M giao cháu Hào và cháu Long cho anh M tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Chị L có nguyện vọng cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh M mỗi tháng 2.000.000đ cho hai cháu (mỗi cháu 1.000.000đồng). Do đó, chấp nhận sự tự nguyện của chị L về phần cấp dưỡng nuôi con.

[3] Về tài sản: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[4] Về án phí: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 51,56,57,58, 81,82,83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 24; điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Về hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn M.

Về con chung:

Công nhận cháu Nguyễn Thị Huyền Lê, sinh ngày 03/11/2005; Nguyễn Long, sinh ngày 19/4/2012; Nguyễn Hào, sinh ngày 23/10/2018, là con chung của chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn M. Hiện nay cháu Nguyễn Thị Huyền Lê đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Giao cháu Nguyễn Long và Nguyễn Hào cho anh M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi về pháp luật. Chị L có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi nuôi con chung cùng anh M mỗi tháng 2.000.000đ cho hai cháu (mỗi cháu 1.000.000đồng), thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 7/2024 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi về pháp luật.

Chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung. Anh M và các thành viên trong gia đình không ai được cản trở. Nếu chị L lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh M có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.

Về án phí:

Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ nhưng chị được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003863 ngày 29 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa. Chị L còn phải nộp 300.000đồng.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L, bị đơn anh Nguyễn Văn M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND h. Hoằng Hóa;
  • - Chi cục THA DS h. Hoằng Hóa;
  • - UBND xã Hoằng X;
  • - Các đương sự.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn.

  • Số bản án: 37/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger