Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BÌNH LONG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Bản án số: 37/2024/HSST

Ngày 18 - 6 - 2024

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1 Bà Vũ Thị Dung

2. Ông Nguyễn Ngọc Châu

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thiên Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Long

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Hùng Phong - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2024/HSST ngày 31 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/HSST – QĐXX, ngày 03 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị T, sinh năm 1992, tại tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: ấp L, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau (Tên gọi khác: Không); Nơi ở: Không có nơi ở ổn định. Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Không ổn định. Tiền án; Tiền sự: Không. Cha của bị cáo tên ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1961 và mẹ của bị cáo tên bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1960; Đăng ký thường trú: Ấp L, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến ngày 25/5/2024 được bảo lĩnh tại ngoại, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Bị hại: Ông Trần Xuân T3, sinh năm: 1951 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn 6, xã Bình Minh, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Vũ Ngọc H, sinh năm: 1993 (Có mặt)

Nơi cư trú: Tổ 2, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước

3.2 Ông Phan Ngọc T4, sinh năm 1968(Vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ 2, ấp Thanh Hòa, xã Thanh Lương, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước

4. Người làm chứng:

4.1 Bà Lê Thị T5, sinh năm 1956; Nơi cư trú: Tổ C, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt)

4.2. Bà Trần Thị H1, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Tổ F, ấp A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 13/01/2024, Nguyễn Thị T được bà Lê Thị T5 quản lý nhà nghỉ “Bảo Trâm” thuộc tổ A, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước nhận làm giúp việc dọn phòng với tiền công 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng)/01 ngày. Ngày 14/01/2024, có ông Trần Xuân T3 và bà Trần Thị H1 đến thuê trả tiền trước và ở qua đêm tại phòng số 03 nhà nghỉ “Bảo Trâm”. Đến khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 15/01/2024, ông T3, bà H1 trả phòng đi về, lúc này Nguyễn Thị T vào dọn vệ sinh phòng số 03 thì phát hiện 01 sợi dây chuyền vàng trên giường ngủ nên T lấy đem về cất giấu tại nơi ở của T là phòng số 10 nhà nghỉ “Bảo Trâm” rồi quay lại tiếp tục dọn phòng. Đến khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 15/01/2024 T đưa dây chuyền cho bạn là Vũ Ngọc H nói nhặt được trong nhà nghỉ rồi nhờ H đi kiểm tra xem nếu vàng thật thì bán. H mang sợi dây chuyền đến tiệm V”, tại tổ B, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước, bán cho ông Phan Ngọc T4 là chủ tiệm lấy 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng), sau đó H đến điểm dịch vụ chuyển tiền của ông Nguyễn Sơn T6 gần tiệm vàng nhờ chuyển 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng) vào tài khoản số 0903053706 của H mở tại Ngân hàng Q (M) chi nhánh thị xã B, tỉnh Bình Phước và gặp T nói bán dây chuyền được 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng). T lấy 1.000.000đ (Một triệu đồng) từ H và nhờ H chuyển cho chị của T là Nguyễn Kiều P nên H chuyển 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng) vào số tài khoản 050134000039 của bà Nguyễn Kiều P mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) S còn lại 33.000.000₫ (Ba mươi ba triệu đồng), gồm 29.000.000₫ (Hai mươi chín triệu đồng) trong tài khoản của H và 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) H cất giữ giúp T. Đến khoảng 10 giờ 00 phút, cùng ngày 15/01/2024 ông Trần Xuân T3 phát hiện để quên sợi dây chuyền trên giường trong nhà nghỉ nên điện thoại cho bà Lê Thị T5 nói vào phòng số 03 lấy sợi dây chuyền cất dùm. Bà T5 vào phòng tìm nhưng không thấy, bà T5 hỏi T nhưng T trả lời không biết nên bà T5 điện thoại báo lại cho ông T3 biết. Khoảng 18 giờ cùng ngày 15/01/2024 ông T3 và bà H1 quay lại nhà nghỉ cùng với bà T5 hỏi T thêm một lần nữa nhưng T khẳng định không có lấy sợi dây chuyền. Ông T3 báo với Công an xã T, tiếp nhân nguồn tin Công an xã T phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã B khám nghiệm hiện trường, tạm giữ 01 phiếu bán hàng ngày 17/01/2023 của tiệm V1, địa chỉ Trung tâm thương mại thành phố Đ, tỉnh Bình Phước do ông Trần Xuân T3 giao nộp và làm việc với Nguyễn Thị T. T thừa nhận có nhặt sợi dây chuyền trong lúc dọn dẹp phòng số 03

và nhờ ông Vũ Ngọc H đem đi bán. Từ cơ sở đó Cơ quan điều tra đã thu hồi được 01 sợi dây chuyền vàng 610p (Vàng 18k) nặng 1,4 lượng do ông Phan Ngọc T4 chủ tiệm vàng “Kim Thành” giao nộp; 01 video trích xuất từ camera an ninh của tiệm vàng “Kim T7” ghi lại hình ông Vũ Ngọc H bán sợi dây chuyền và ông Vũ Ngọc H giao nộp 3.200.000₫ (Ba triệu đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 của ông Vũ Ngọc H; 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) do bà Nguyễn Kiều P giao nộp.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 04/KL - ĐGTS ngày 16/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã B, kết luận: 01 sợi dây chuyền vàng có trọng lượng 01 lượng 400 (1L400), loại vàng ký hiệu 610P (Vàng 18k), trị giá 54.040.000đ (Năm mươi bốn triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số: 37/CT - VKS - HS ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Chiếm giữ trài phép tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 176 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi và hậu quả, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 176, Điều 38, Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Đề nghị xử phạt Nguyễn Thị T mức án từ 4 (Bốn) tháng 9 (Chín) ngày tù, đến 9 (C) tháng tù.

Về vật chứng vụ án:

  • - Cơ quan điều tra đã xử lý: Trả lại cho ông Trần Xuân T3 01 sợi dây chuyền vàng có trọng lượng 01 lượng 400 (1L400), loại vàng ký hiệu 610P (vàng 18k) do ông Phan Ngọc T4 là người mua sợi dây chuyền từ Vũ Ngọc H giao nộp.
  • - Đề nghị trả lại cho ông Vũ Ngọc H 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 và 01 sim điện thoại số 0903.053.xxx không liên quan đến hành vi phạm tội.

Về dân sự:

Ông Phan Ngọc T4 là người mua sợi dây chuyền vàng yêu cầu hoàn trả 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng), số tiền này ông Vũ Ngọc H giao nộp 23.200.000₫ (Hai mươi ba triệu hai trăm nghìn đồng); bà Nguyễn Kiều P giao nộp 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng); Bị hại Trần Xuân T3 nộp hổ trợ cho Vũ Ngọc H và Nguyễn Thị T 10.800.000₫ (Mười triệu tám trăm nghìn đồng) để hoàn trả lại đủ 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) cho ông Phan Ngọc T4. Bị hại ông Trần Xuân T3 đã nhận lại sợi dây chuyền và không yêu cầu gì khác.

Đối với việc Nguyễn Thị T có đưa và nhờ ông Vũ Ngọc H mang sợi dây chuyền đi kiểm tra và bán dùm sợi dây chuyền vàng cho T sau đó được chia tiền nhưng ông H không biết đó là tài sản do T phạm tội mà có và đã giao nộp số tiền để chuộc lại sợi dây chuyền trả cho ông T3, không cấu thành tội phạm nên không xử lý.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Bị hại ông Trần Xuân T3 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với ông Trần Xuân T3.

[2] Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra bị cáo Nguyễn Thị T khai nhận vào khoảng 07 giờ 50 phút, ngày 15/01/2024, bị cáo T trong lúc quét dọn phòng số phòng số 03 nhà nghỉ “Bảo Trâm” phát hiện 01 sợi dây chuyền vàng trên giường ngủ do ông T3 thuê phòng bỏ quên sau khi đã trả phòng nên bị cáo T lấy sợi dây chuyền vàng đem về cất giấu tại nơi ở của T là phòng số 10 nhà nghỉ “Bảo Trâm” rồi quay lại tiếp tục dọn dẹp. Sau đó ông T3 phát hiện bị mất 01 sợi dây chuyền vàng trên giường ngủ và gọi điện báo cho bà T5 chủ nhà nghỉ có đến hỏi về việc bị cáo T có thấy 01 sợi dây chuyền vàng trên giường ngủ phòng số 3 hay không bị cáo trả lời không thấy, trước đó khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 15/01/2024 bị cáo T đã đưa sợi dây chuyền cho ông Vũ Ngọc H nói nhặt được trong nhà nghỉ rồi nhờ ông H đi kiểm tra và bán lấy tiền tiêu xài. Đến 16 giờ 00 phút, ngày 15/01/2024 ông T3 quay lại Nhà nghỉ và gặp hỏi bị cáo T có nhặt được sợi dây chuyền vàng của ông T3 hay không thỉ bị cáo T vẫn trả lời là không lấy sợi dây chuyền vàng của ông T3, sau khi ông T3 trình báo Công an đến làm việc thì bị cáo đã khai nhận có nhặt được sợi dây chuyền vàng của ông T3 nhưng đã nhờ H bán lấy tiền tiêu xài. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 04/KL - ĐGTS ngày 16/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã B, kết luận: 01 sợi dây chuyền vàng có trọng lượng 01 lượng 400 (1L400), loại vàng ký hiệu 610P (Vàng 18k), trị giá 54.040.000đ (Năm mươi bốn triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng). Xét lời khai nhận tội của bị cáo

T là phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩ vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ yếu tố cấu thành tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 176 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bản cáo trạng số 37/CT - VKS - HS ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 176 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Thị T thành khẩn khai báo nhận ra lỗi lầm, ăn năn hối cải về hành vi sai trái của mình chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án thấp để chấp hành tốt mong sớm được đoàn tụ cùng gia đình và bị cáo hứa không tái phạm.

[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bản thân bị cáo đã trưởng thành và có đủ năng lực hành vi để nhận thức về việc làm của mình. Do ham chơi lười lao động, bị cáo không nghề nghiệp, không việc làm ổn định, không tu tâm, tu chí, bị cáo đã bị sa ngã trước sức mạnh của vật chất, lẽ ra khi quét dọn phòng cho chủ Nhà nghỉ bị cáo phát hiện thấy sợi dây chuyền vàng, tài sản của khách nghỉ trọ bỏ quên thì phải báo với chủ Nhà nghỉ, trả lại tài sản cho người đánh rơi hoặc bỏ quên nhưng bị cáo đã chiếm giữ làm của riêng, nhờ ông bạn là ông Vũ Ngọc H mang đi bán lấy tiền tiêu xài cho bản thân.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm trực tiếp đến tài sản sở hữu hợp pháp của bị hại, ảnh hưởng đến tình hình chung của xã hội, gây hoang mang trong nhân dân. Cần phải xử mức án tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra, cần phải cách ly Nguyễn Thị T ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, rèn luyện trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét thấy cần giảm cho bị cáo một phần hình phạt lẽ ra bị cáo phải chịu cũng để thể hiện tính nhân đạo và hướng thiện của pháp luật.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát đề xuất mức án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Vật chứng vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

[4.1] Đối với 01 sợi dây chuyền vàng có trọng lượng 01 lượng 400 (1L400), loại vàng ký hiệu 610P (Vàng 18k) là tài sản của ông Trần Xuân T3; Cơ quan Công

an thị xã B đã xử lý trả lại cho ông Trần Xuân T3 là phù hợp với quy định của pháp luật.

[4.2] Đối với số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) ông Vũ Ngọc H sau khi bán sợi dây chuyền vàng đưa cho bị cáo Nguyễn Thị T tiêu xài cá nhân là tiền thu nhập bất chính cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước. Bị cáo Nguyễn Thị T có nghĩa vụ giao nộp tại C Thị hành án dân sự thị xã B, tỉnh Bình phước, số tiền 1.000.000₫ (Một triệu đồng) tiền thu lợi bất chính.

[4.3] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, 01 sim điện thoại số 0903.053.xxx là tài sản của ông Vũ Ngọc H không không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho ông Vũ Ngọc H.

[5] Về dân sự:

[5.1] Bị hại ông Trần Xuân T3 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên không đặt ra.

[5.2] Ông Phan Ngọc T4 đã nhận lại số tiền mua sợi dây chuyền vàng 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) và ông T4 không yêu cầu thêm gì nên không đặt ra.

[6]. Ông Vũ Ngọc H có hành vi bán dùm 01 sợi dây chuyền vàng do Nguyễn Thị T đưa sau đó được chia tiền nhưng H không biết đó là tài sản do Nguyễn Thị T phạm tội mà có nên không xử lý.

[7]. Về Án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 176 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

2. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 176, Điều 38, Điều 50; điểm i, s khoảng 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T 7 (B) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày chấp hành hình phạt của bản án, được trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam (ngày 16/01/2024 đến ngày 25/5/2024).

3. Về Dân sự:

3.1. Bị hại Trần Xuân T3 đã nhận lại sợi dây chuyền vàng và không yêu cầu gì khác nên không đặt ra.

3.2. Ông Phan Ngọc T4 đã nhận lại số tiền mua sợi dây chuyền vàng 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) và ông T4 không yêu cầu gì nên không đặt ra.

4. Vật chứng của vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015:

4.1. 01 sợi dây chuyền vàng có trọng lượng 01 lượng 400 (1L400), loại vàng ký hiệu 610P (Vàng 18k) là tài sản của ông Trần Xuân T3; Cơ quan Công an thị xã B đã xử lý trả lại cho ông Trần Xuân T3.

4.2. Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng). Bị cáo Nguyễn Thị T có nghĩa vụ giao nộp tại C Thị hành án dân sự thị xã B, tỉnh Bình phước, số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) tiền thu lợi bất chính.

4.3.T8 trả lại cho ông Vũ Ngọc H 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, 01 sim điện thoại số 0903.053.xxx là tài sản của ông Vũ Ngọc H không liên quan đến hành vi phạm tội.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 0002830 ngày 17/6/2024 giữa Công an thị xã B và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Long).

5. Về Án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND thị xã Bình Long;
  • - Công an thị xã Bình Long;
  • - Chi Cục THA DSTX Bình Long;
  • - Phòng PV27 – CAT Bình Phước;
  • - Bị cáo, bị hại, đương sự;.
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Đình Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HSST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về chiếm giữ trái phép tài sản

  • Số bản án: 37/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Chiếm giữ trái phép tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger