Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/DS-ST

Ngày: 18/6/2024

V/v tranh chấp hợp đồng

Dân sự, vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bằng và ông Huỳnh Văn Tâm.

- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Toà án nhân dân thành

phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang

tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 61/2024/TLST - DS ngày 04 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số /2024/ ngày 28/5/2024, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1976; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt);

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm G, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Tổ D, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn tại phiên tòa trình bày: Do quen biết nên bà T có cho bà G vay nhiều lần cụ thể như sau: Lần 01: Tháng 8/2022 (âm lịch) bà G vay số tiền 29.000.000 đồng; Lần 02: Tháng 8/2022 (âm lịch) bà G vay số tiền 7.000.000 đồng; Lần 03, 04: Tháng 9/2022 (âm lịch) bà G vay số tiền 10.000.000 đồng; Lần 05, 06: Tháng 10/2022 (âm lịch) bà G vay số tiền 4.000.000 đồng. Tổng cộng 06 lần bà G đã vay của bà T là 50.000.000 đồng. Việc vay tiền chỉ thoả thuận miệng, không làm biên nhận, có thỏa thuận lãi suất, mục đích vay tiền.

Từ thời điểm vay tiền đến tháng 01/2023 (âm lịch) bà G trả tiền lãi nhiều lần với tổng số tiền là 12.000.000 đồng. Bà T đã nhiều lần yêu cầu bà G trả lại vốn gốc nhưng bà G không thực hiện.

Ngày 14/4/2023, bà T gửi đơn đến Ban K, phường N yêu cầu bà G trả số tiền nợ nêu trên thì bà G chỉ thừa nhận nợ số tiền 29.000.000 đồng và hứa sẽ trả 1.000.000 đồng/tháng vào ngày 14 (âm lịch) hằng tháng và bà G đã trả được 5.500.000 đồng và ngưng trả cho đến nay. Tại thời điểm đó do không có chứng cứ nên bà T cũng đồng ý với số tiền vốn 29.000.000 đồng như bà G trình bày. Tuy nhiên, bà T đã tìm được đoạn ghi âm thể hiện bà G thừa nhận vay của bà T 50.000.000 đồng. Nay bà T khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm G trả lại số tiền 44.500.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm G trình bày: Thừa nhận có vay tiền của bà Nguyễn Thị Thanh T với số tiền vốn vay 29.000.000 đồng. Do hoàn cảnh khó khăn nên không có khả năng trả vốn và tiền lãi nên bà T khởi kiện đến Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C. Tại phiên hòa giải, bà G và bà T thống nhất nợ vốn 29.000.000 đồng và hứa sẽ trả mỗi tháng 1.000.000 đồng. Bà G đã trả được 5.500.000 đồng thì ngưng do không có khả năng trả nợ. Nay bà G xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi dứt nợ.

Tòa án tiến hành mở phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các đương sự thống nhất bà G còn nợ tiền vốn 23.500.000 đồng nhưng không thống nhất được phương thức thanh toán nên hoà giải không thành.

Tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ nguyên đơn giao nộp để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là biên bản hoà giải tại Ban khóm và lời khai thừa nhận của bị đơn về nợ vốn vay là 23.500.000 đồng. Bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền lãi, vốn vay nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả vốn vay 23.500.000 đồng là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015. Về phương thức thanh toán, bị đơn xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi dứt nợ nhưng không được nguyên đơn chấp nhận. Phương thức thanh toán sẽ được xem xét giai đoạn thi hành án. Đối với việc nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 21.000.000 đồng, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

[1] Thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn là bà Nguyễn Thị Cẩm G có nơi cư trú tại thành phố C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; Bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm G đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử các đương sự.

Về nội dung:

[3] Bà Nguyễn Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm G trả lại số tiền vốn vay 23.500.000 đồng, không yêu cầu tính lãi; cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh là biên bản hòa giải phường N, thành phố C. Tòa án tiến hành hòa giải, các đương sự thống nhất nợ vốn vay 23.500.000 đồng.

Xét, hợp đồng vay giữa bà T và bà G được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức bằng miệng và nội dung thỏa thuận hợp đồng không trái quy định của pháp luật nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.

[4] Về vốn vay: Căn cứ vào Biên bản hoà giải tại B khóm V, phường N và biên bản hoà giải tại Toà án; các đương sự thống nhất vốn vay 29.000.000 đồng; bị đơn đã trả được 5.500.000 đồng nên còn nợ lại vốn vay là 23.500.000 đồng. Thấy rằng, giữa bà T và bà G có giao kết hợp đồng để bà G vay tiền. Quá trình vay do bà G không thực hiện trả vốn vay, tiền lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng là vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Do đó, bà T khởi kiện yêu cầu bà G có trách nhiệm trả vốn vay là phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, xét chấp nhận.

Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm G có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Thanh T số tiền vốn vay là 23.500.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với tiền 21.000.000 đồng. Do đó, đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền 21.000.000 đồng.

[5] Về tiền lãi: Do nguyên đơn không yêu cầu tính tiền lãi nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Thị Cẩm G có trách nhiệm trả vốn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.175.000 (một triệu một trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.

- Yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả tạm ứng án phí cho bà Nguyễn Thị Thanh T đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 147, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T.

Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm G có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Thanh T số tiền vốn vay 23.500.000 (hai mươi ba triệu năm trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm G trả số tiền vốn vay 21.000.000 đồng.

[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Cẩm G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.175.000 (một triệu một trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.

Bà Nguyễn Thị Thanh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà T số tiền 1.138.000 (một triệu một trăm ba mươi tám nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0003269 ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc.

[3] Về quyền kháng cáo:

Thời hạn kháng cáo của các đương sự là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- Viện kiểm sát TPCĐ (2);

- Tòa án tỉnh An Giang (1);

- Thi hành án DS TPCĐ (1);

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ (1),

- Lưu văn phòng (1).

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Ngọc Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/DS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản

  • Số bản án: 37/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng Dân sự, vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger