Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Y

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 37/2024/HS- ST
Ngày: 17- 4 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Tuyên.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Đạt và ông Nguyễn Văn Đại.
  • - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y.

- Đại diện VKSND huyện Y tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Mai Thành - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17/4//2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Tòa án nhân dân huyện Y mở phiên tòa lưu động xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2024/HSST ngày 25 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Lò Văn D, sinh năm 1996; HKTT: Bản Nh, xã Ch, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn S (Đã chết) và bà Lò Thị B - sinh năm: 1968; Gia đình có 4 chị em, bị cáo là thứ tư; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

  1. Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1992
    HKTT: Bản Kh, xã Đ, huyện N, tỉnh Tuyên Quang;
    Chỗ ở: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  2. Anh Phạm Quốc Th, sinh năm 1998
    Trú tại: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 15/12/2023, tại cầu thuộc thôn Tr, xã Đ, huyện Y. Công an xã Đ, huyện Y phát hiện Lò Văn D, sinh năm 1996, ở Bản Nh, xã Ch, huyện M, tỉnh Sơn La tay cầm gói nilon màu hồng ném xuống nền đường dưới chân mình thì bị phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: 01 túi nilong màu hồng có kích thước (01x01)cm, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (niên phong ký hiệu H1). Đi cùng với Lò Văn D là anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1992, ở bản Kh, xã Đ, huyện N, tỉnh Tuyên Quang.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lò Văn D tại thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Quá trình điều tra Lò Văn D khai nhận: D đang làm nghề lao động tự do và ở trọ tại thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên và là người sử dụng ma túy, loại Heroine, bằng hình thức hít, từ khoảng giữa năm 2023 cho đến nay. Qua mối quan hệ xã hội, D biết một người tên là H khoảng 25 đến 30 tuổi, cao khoảng 1m65, da trắng, mặt rỗ, nhà ở khu vực thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Khoảng 17 giờ ngày 15/12/2023, D có nhu cầu sử dụng ma tuý nên đã sử dụng số điện thoại 0356.247.xxx được lắp trong điện thoại Nokia màu hồng gọi cho Hải để hỏi mua 300.000 đồng ma tuý, loại heroine thì H đồng ý và hẹn D ra khu vực cổng lối vào Khu công nghiệp phố nối A, thuộc địa phận huyện V, tỉnh Hưng Yên để lấy ma tuý. Khi D đến, gặp H đang đứng đợi. D nhận ra là H, vì trước đó D đã từng mua ma túy của H nên đã tiến lại gần đưa cho H số tiền 300.000 đồng, được H đưa cho 01 gói nilon, màu hồng, kích thước (1x1)cm, bên trong có chứa chất cục bột màu trắng, D cầm gói ma túy của H đưa cho, qua quan sát và sờ nắn, xác định đây đúng là ma túy Heroine nên đã cất giấu vào túi quần phía trước bên phải chiếc quần đang mặc rồi đi về phòng trọ. D lấy một phần ma tuý vừa mua được ra, một mình sử dụng bằng cách hít. Sau khi sử dụng ma tuý xong, số ma tuý còn lại D cuộn gói lại và cất vào trong túi quần đang mặc. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, D đã nhờ anh Đ, là người cùng dãy trọ chở xuống khu vực huyện Y, tỉnh Hưng Yên để gặp người yêu và trả tiền xe 50.000 đồng, anh Đ đồng ý. Việc D cất giấu ma tuý trong người, anh Đ không biết. Anh Đ chở D đến khu vực đường cánh đồng thuộc thôn Tr, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, thì D bảo anh Đ dừng xe lại xuống đi vệ sinh đồng thời nói anh Đ đợi. Khi D đi được một đoạn, thì lấy trong túi quần đang mặc ra gói ma tuý heroine đã mua của H trước đó để chuẩn bị sử dụng, thì thấy lực lượng Công xã Đ đến, D sợ quá nên đã ném gói ma tuý này xuống vị trí dưới chân đang đứng thì bị lực lượng Công an xã Đ kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Kết quả xét nghiệm sinh hóa ngày 16/12/2023 xác định: Lò Văn D dương tính với ma túy, loại Heroine.

Tại bản kết luận giám định số 40/KL-KTHS(MT) ngày 19/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu H1, có khối lượng là: 0,286g (không phẩy hai tám sáu gam) là ma tuý, loại Heroine.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã nhập kho vật chứng đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định là: 01 phong bì niêm phong ghi số 40/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,275g Heroine; 01 mảnh nilon gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định chờ xử lý.

Đối với người đàn ông tên là H, bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lý lịch của người này nên không có căn cứ để xem xét xử lý.

Đối với Hoàng Văn Đ không biết bị cáo D tàng trữ ma túy và sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Đối với chiếc điện thoại Nokia (do Trung quốc sản xuất) màu hồng bên trong lắp sim thuê bao số 0356247380 D khai nhận sử dụng gọi cho H để mua ma tuý, sau khi mua được ma tuý trên đường về đã bị rơi mất không xác định được vị trí nào nên không có cắn cứ để truy tìm.

Quá trình điều tra bị cáo Lò Văn D đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 32/CT-VKS-YM ngày 22/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo Lò Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo Lò Văn D và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.
  • - Đề nghị xử phạt: Bị cáo Lò Văn D từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 16/12/2023;
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo D. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y còn đề nghị về đường lối xử lý vật chứng trong vụ án.
  • - Bị cáo Lò Văn D nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, đồng thời thành khẩn khai báo nhận tội, thái độ ăn năn hối cải, được nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo ở mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an huyện Y và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.

Về tố tụng: Tại phiên tòa người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên quá trình điều tra những người làm chứng đã có lời khai, do đó sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt những người làm chứng.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong vật chứng, biên bản ghi lời khai của những người làm chứng, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 15/12/2023, tại cầu thuộc thôn Tráng Vũ, xã Đồng Than, huyện Y, tỉnh Hưng Yên bị cáo Lò Văn D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,286g ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Công an xã Đ, huyện Y, tỉnh Hưng Yên phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi và khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ như nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất an ninh, trật tự công cộng, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy: Mặc dù bị cáo lần đầu phạm tội, chưa có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và việc bị cáo Tàng trữ trái phép chất ma túy cũng để phục vụ cơn nghiện của mình chứ không có mục đích tư lợi nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, để phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng trong vụ án:

01 phong bì niêm phong ghi số 40/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,275g Heroine; 01 mảnh nilon gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định là vật liên quan đến hành vi phạm tội, vật nhà nước cấm lưu hành, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.

[7] Đối với người đàn ông tên H bị cáo D khai đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được là ai, ở đâu và Hoàng Văn Đ không biết bị cáo D tàng trữ ma túy và sử dụng ma túy nên không có căn cứ xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 2 Điều 136 của BLTTHS.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lò Văn D 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/12/2023.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lò Văn D.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu cho tiêu hủy 0,275 g ma túy Heroine, 01 mảnh nilon gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu số 40/KL-KTHS (MT).

(Đặc điểm, tình trạng chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/4/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y và Công an huyện Y).

Về án phí: Buộc bị cáo Lò Văn D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS. Bị cáo Lò Văn D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - CA, VKS, THA huyện Y;
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã Ch;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Dẫn Điều 249
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger