|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16/9/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Việt và ông Nguyễn Quang Nhã.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diệu Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 44/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 07/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/QĐST- HNGĐ ngày 20/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1985, địa chỉ: Tổ dân phố 4, thị trấn N, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có Đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Cao Đình V, sinh năm 1978, địa chỉ: Tổ dân phố 4, thị trấn N, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 02/5/2024, bản tự khai ngày 17/5/2024 và Đơn xin xét xử vắng mặt ngày 15/5/2024 chị Nguyễn Thị L đều trình bày: Chị và anh Cao Đình V trước đây tìm hiểu, yêu nhau và kết hôn hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 28/9/2006. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian ngắn, thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau, làm mất mát tình cảm. Hai người đã sống ly thân 8 năm nay, không còn liên lạc và không quan tâm gì nhau nữa. Hiện tại, chị L xác định tình cảm vợ chồng thực sự đã hết, không còn khả năng cải thiện lại quan hệ hôn nhân nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Cao Đình V. Về con chung: Chị L và anh V có 01 con chung tên là Cao Đình Minh Đ, sinh ngày 25/3/2007. Hiện con đang ở với anh V. Sau khi ly hôn chị L có nguyện vọng giao con cho anh V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, vì chị đi làm ăn xa không thể trực tiếp nuôi con, chị L tự nguyên cấp dưỡng nuôi con cùng anh V mỗi tháng 2.000.000 đồng. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Bị đơn anh Cao Đình V đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, kể cả Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập phiên tòa hai lần nhưng anh V vẫn vắng mặt mà không có lý do.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn và giải quyết về con đối với bị đơn anh Cao Đình V là tranh chấp về hôn nhân và gia đình “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy đã kiểm tra, xác minh, thấy bị đơn anh Cao Đình V có nơi cư trú: Thị trấn N, huyện L, tỉnh Quảng Bình theo Giấy xác nhận thông tin cư trú của Công an thị trấn N do chị Lý giao nộp. Tòa án đã tống đạt, niêm yết các Thông báo, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập phiên tòa hai lần hợp lệ nhưng anh V không đến tòa mà không có lý do. Như vậy, bị đơn đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được pháp luật quy định.
Ngày 17/5/2024, Tòa án nhận được đơn xin xét xử vắng mặt của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L, với nội dung, giữ nguyên quan điểm yêu cầu ly hôn và giải quyết nuôi con như đã trình bày tại đơn ly hôn và bản tự khai nói trên, chị L xin xét xử vắng mặt vì điều kiện đi làm xa, kinh tế khó khăn. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo các điểm a, b khoản 2 Điều 227 và các khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà Tòa án thu thập trong quá trình giải quyết vụ án, cho thấy, chị Nguyễn Thị L và anh Cao Đình V yêu nhau và kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 28/9/2006 là hôn nhân hợp pháp.
Theo trình bày tại đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt của nguyên đơn chị L trong quá trình giải quyết vụ án, thì vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn, sau đó thường xuyên xảy ra mẫu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường hay cãi vã làm cho tình cảm vợ chồng phai nhạt, mất mát, không thể hàn gắn được. Chị L xác định tình cảm vợ chồng thực sự đã hết và yêu cầu được ly hôn anh V. Trong quá trình giải quyết, Tòa án cũng đã tạo điều kiện về mặt thời gian, hòa giải để vợ chồng có thể thông cảm, bỏ qua những đố kị, mặc cảm cho nhau, cải thiện lại quan hệ hôn nhân, xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng anh V vẫn vắng mặt kể cả tại phiên tòa lần thứ hai, mặc dù Tòa án đã thực hiện biện pháp tống đạt, niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập cho anh V. Qua xác nhận của Công an thị trấn N, anh V có nơi cư trú tại thị trấn N, huyện L, tỉnh Quảng Bình và đang có mặt, sinh sống tại địa phương. Chứng tỏ anh V cố tình không chấp hành giấy triệu tập và thông báo của Tòa án, từ bỏ quyền lợi nghĩa vụ của mình, không có thiện chí hòa giải để bảo vệ hạnh phúc gia đình và không tha thiết hàn gắn tình cảm với chị Lý nữa.
Xét thấy, tình trạng vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L, xử cho chị L, anh V được ly hôn nhau là có căn cứ và phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2]. Về con chung: Chị L trình bày vợ, chồng có 01 con chung tên là Cao Đình Minh Đ, sinh ngày 25/3/2007. Hiện con đang ở với anh V, sau khi ly hôn, chị L có nguyện vọng giao con cho anh V nuôi dưỡng, vì chị phải đi làm ăn xa không thể trực tiếp nuôi dưỡng con được. Chị L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cùng anh V mỗi tháng 2.000.000 đồng. Anh V vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, không có quan điểm về con nhưng cháu Cao Đình Minh Đ có nguyện vọng muốn ở với bố nên cần chấp nhận yêu cầu của chị L để giao con cho anh V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị L cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là phù hợp.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị L trình bày không có tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo luật định.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, các điểm a, b khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L.
- Xử cho chị Nguyễn Thị L và anh Cao Đình V được ly hôn nhau.
- Giao con Cao Đình Minh Đ, sinh ngày 25/3/2007 cho anh Cao Đình V được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị L cấp dưỡng nuôi con cùng anh V mỗi tháng 2.000.000 đồng. Việc cấp dưỡng kể từ tháng 10/2024 cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở việc thực hiện quyền này.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, tổng cộng 600.000 đồng, được trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình theo biên lai số 0004364 ngày 02/5/2024, số tiền còn lại, chị L phải nộp tiếp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L và bị đơn anh Cao Đình V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Thị Nhàn |
Bản án số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 37/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án có hiệu lực pháp luật
