Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM NÔNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày 16-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Minh Phụng.

Ông Nguyễn Văn Sĩ.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Nhàn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Phục - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn A, sinh năm 2000 tại tỉnh Đồng Tháp; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1971 và bà Trần Thị Hồng H, sinh năm 1972; có vợ tên Nguyễn Thị Mộng T1, sinh năm 1996 (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Lê Thị L, sinh năm 1972 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Nguyễn Văn T2 Em (Tý Đ), sinh năm 1997 (vắng mặt).

2. Võ Hoàng A1, sinh năm 1982, có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

3. Trần Thị Hồng H, sinh năm 1972 (vắng mặt).

Địa chỉ: khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 23/3/2024, bà Lê Thị L ngụ khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp khóa cửa nhà đi lễ tại nhà thờ Giáo xứ T3 thuộc khóm B, thị trấn T. Lúc này, Nguyễn Tuấn A thấy nhà bà L không có ai nên nảy sinh ý định vào nhà lấy trộm tài sản. Sau đó, Tuấn A leo đột nhập từ phía sau vào nhà bà L đi vào phòng ngủ của L để tìm tài sản trộm thì nhìn thấy 01 cái bóp treo trên vách, Tuấn A mở bóp lấy được 2.200.000đồng và 01 thẻ ATM tên LE THI LIEN rồi đi về nhà.

Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, bà L đi lễ về nhà điện thoại di động báo tin nhắn tài khoản ngân hàng của bà L bị rút số tiền 5.800.000 đồng nên bà L đi vào nhà đến phòng ngủ kiểm tra trong bóp bị mất số tiền 2.200.000 đồng và 01 thẻ ATM nên đến công an trình báo.

Quá trình điều tra, Nguyễn Tuấn A thừa nhận: Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên mới vào nhà L lấy trộm tiền và 01 thẻ ATM, còn mật khẩu ATM Tuấn A biết do chị L nhờ kích hoạt mã Pin dùm. Tuấn A sử dụng tiệm trộm cắp được như sau: Số tiền 1.900.000 đồng để chuộc lại 02 điện thoại di động tại tiệm của anh Võ Hoàng A1 ở khóm B, thị trấn T; nạp vào tài khoản ngân hàng của Tuấn A được số tiền 1.650.000 đồng; gửi cho bạn tên Nguyễn Văn Tý E ở khóm B, thị trấn T giữ dùm số tiền 2.152.000 đồng và cho mẹ ruột Trần Thị Hồng H 200.000 đồng, số tiền còn lại Tuấn A tiêu xài cá nhân hết.

Vật chứng thu giữ, gồm: Nguyễn Văn Tý E: tiền Việt Nam 2.152.000 đồng; Trần Thị Hồng H: tiền Việt Nam 200.000 đồng; Nguyễn Tuấn A: tiền Việt Nam 1.650.000 đồng; Võ Hoàng A1 (01 file dữ liệu video, tên hiv00022.mp4, dung lượng 256MB; 01 file dữ liệu video, tên hiv00024.mp4, dung lượng 256MB gồm 02 file được lưu trữ trong đĩa CD tròn, ký hiệu A; tiền Việt Nam 1.900.000đồng); Ngân hàng BIDV - tỉnh Đ (01 file dữ liệu điện tử, tên 691003 tamnong.avi; 01 file dữ liệu điện tử, tên 691003 tamnong_2.avi gồm 02 file được lưu trữ trong đĩa CD tròn, ký hiệu B); Lê Thị L: 01 bóp bằng nhựa, màu đỏ, (đã qua sử dụng).

Tại Cáo trạng số: 35/CT-VKSTN ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo Tuấn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A, phạm tội “Trộm cắp tài sản” mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên tịch thu lưu vào hồ sơ vụ án 01 file dữ liệu video, tên hiv00022.mp4, dung lượng 256MB và 01 file dữ liệu video, tên hiv00024.mp4, dung lượng 256MB (02 file được lưu trữ trong đĩa CD tròn, ký hiệu A) thu giữ của Võ Hoàng A1; 01 file dữ liệu điện tử, tên 691003 tamnong.avi và 01 file dữ liệu điện tử, tên 691003 tamnong_2.avi (02 file được lưu trữ trong đĩa CD tròn, ký hiệu B) thu giữ của Ngân hàng B – tỉnh Đồng Tháp.

Bị cáo Nguyễn Tuấn A thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” như nội dung cáo trạng đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, không tham gia tranh luận với Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình vi phạm pháp luật là sai nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Toà án đã triệu tập hợp lệ bà L, Hoàng A1, Tý E đến tham gia phiên toà, nhưng bà L, Hoàng A1 vắng mặt có lý do, Tý E vắng mặt không có lý do. Quá trình điều tra, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã có lời khai được lưu vào trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản xác định hiện trường, Sơ đồ hiện trường và Bản ảnh cùng ngày 01/6/2024 của Công an huyện T; Lời khai bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, cùng toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ ngày 23/3/2024, tại khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp bị cáo Nguyễn Tuấn A nhìn thấy bà L khóa cửa, nhà không người trông coi nên bị cáo đi từ phía sau vào nhà và đi vô phòng ngủ của bà L lấy trộm số tiền 2.200.000 đồng và 01 thẻ ATM. Sau đó, bị cáo rút tài khoản trong thẻ ATM của Liền số tiền 5.800.000 đồng, tổng tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 8.000.000 đồng. Do đó, Cáo trạng số: 35/CT-VKSTN ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác trái pháp luật, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đang trong độ tuổi lao động, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân mà thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Qua đó, thấy được ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Bên cạnh đó, tình hình tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện T gia tăng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, nhằm giáo dục bị cáo phải chấp hành tốt pháp luật. Đồng thời, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng phòng ngừa, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.

[4] Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã bồi thường thiệt hại xong; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế và thuộc hộ cận nghèo (Sổ cận nghèo do Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 01/01/2024). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Hình phạt bổ sung: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xét thấy bị cáo không nghề nghiệp ổn định và thuộc hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều, Cơ quan điều tra đã trả cho bị hại nhận đủ số tiền 8.000.000 đồng. Ngoài ra, thẻ ATM của bị hại Liền, bị cáo Tuấn A đã ném bỏ, không thu giữ được, bà L không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại. Xét thấy, bị hại đã nhận lại tiền và không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với Võ Hoàng A1, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra thu hồi số tiền 1.900.000 đồng của bị cáo Tuấn A trả tiền chuộc điện thoại. Sau đó bị cáo Tuấn A đã trả lại số tiền 1.900.000 đồng cho Hoàng A1 nhận xong và không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với tiền Việt Nam 2.152.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn T2 Em; tiền Việt Nam 200.000 đồng thu giữ của Trần Thị Hồng H; tiền Việt Nam 1.650.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Tuấn A và tiền Việt Nam 1.900.000 đồng thu giữ của Võ Hoàng A1, tổng số tiền là: 5.902.000 đồng và 01 bóp bằng nhựa, màu đỏ (đã qua sử dụng) thu gữ của bị hại Liền. Xét thấy, quá trình điều tra đã trả lại cho bà L nhận lại xong, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với (01 file dữ liệu video, tên hiv00022.mp4, dung lượng 256MB; 01 file dữ liệu video, tên hiv00024.mp4, dung lượng 256MB gồm 02 file được lưu trữ trong đĩa CD tròn, ký hiệu A) thu giữ của Võ Hoàng A1 và thu giữ của Ngân hàng B – tỉnh Đồng Tháp (01 file dữ liệu điện tử, tên 691003 tamnong.avi; 01 file dữ liệu điện tử, tên 691003 tamnong_2.avi gồm 02 file được lưu trữ trong đĩa CD tròn, ký hiệu B). Xét thấy, đây là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu hồ sơ vụ án là phù hợp.

[8] Đối với Nguyễn Văn Tý E, Võ Hoàng A1 và Trần Thị Hồng H trình bày không biết số tiền nhận từ bị cáo Tuấn A do trộm cắp mà có, khi Công an làm việc đã giao lại tài sản trả lại cho bị hại. Tại phiên tòa, bị cáo khai những người nêu trên bị cáo đưa tiền nhưng không nói do trộm cắp mà có. Vì vậy, không có căn cứ để xem xét xử lý trách nhiệm của Tý E, Hoàng A1 và H.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoảng 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) file dữ liệu video, tên hiv00022.mp4, dung lượng 256MB; 01 (một) file dữ liệu video, tên hiv00024.mp4, dung lượng 256MB gồm 02 file được lưu trữ trong đĩa CD tròn, ký hiệu A thu giữ của Võ Hoàng A1 và 01 (một) file dữ liệu điện tử, tên 691003 tamnong.avi; 01 (một) file dữ liệu điện tử, tên 691003 tamnong_2.avi gồm 02 file được lưu trữ trong đĩa CD tròn, ký hiệu B thu giữ của Ngân hàng B – tỉnh Đồng Tháp (đang lưu hồ sơ vụ án).

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tuấn A thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoảng 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Tam Nông;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - CQ CSĐT CA H. Tam Nông;
  • - CQ THAHS CA H. Tam Nông;
  • - Nhà tạm giữ CA H. Tam Nông;
  • - Chi cục THADS H. Tam Nông;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Huỳnh Kim Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger