|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2024/DS-ST. Ngày: 16 - 7 - 2024. V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Bình.
2. Bà Nguyễn Thị Minh Trâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hoàng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Y - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 279/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2023 về tranh chấp: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Mộng H (T) - Sinh năm 1979 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số E đường L, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
2/ Bị đơn: Ông Huỳnh Phước L - Sinh năm 1985 (Vắng mặt).
Nơi thường trú: Khu phố D, phường B, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Tạm trú tại: Số nhà D đường P, khu phố E, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
3/ Người làm chứng:
- Ông Lý Ngọc L1 - Sinh năm 1972 (Xin vắng mặt).
Địa chỉ: Số E đường L, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Nguyễn Hữu Quốc B - Sinh năm 1979 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số D, khu phố C T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Mộng H trình bày:
Giữa bà và ông Huỳnh Phước L có mối quan hệ là dì cháu do ông L lấy cháu gái ruột của bà là Phan Thị Anh T1. Vào đầu tháng 9 năm 2022, ông L mua đất nên cần tiền và hỏi mượn của bà số tiền 150.000.000 đồng. Vì nghĩ là con cháu trong nhà, bà đồng ý cho ông L mượn số tiền trên nên ngày 05/9/2022 bà đã chuyển khoản cho ông L mượn. Sau đó bà và gia đình ra nhà cha mẹ vợ của ông L chơi thì chính tay ông L viết “Giấy vay tiền” ngày 05/9/2022 và đưa cho bà giữ. Khi ông L viết “Giấy vay tiền” ngày 05/9/2022 có ông Nguyễn Hữu Quốc B và ông Lý Ngọc L1 chứng kiến. Theo nội dung thỏa thuận giữa bà và ông L thì bà cho ông L vay số tiền 150.000.000 đồng không lãi suất, thời hạn vay đến ngày 30/5/2023. Đến thời hạn, bà đòi nhiều lần nhưng ông L không trả mà còn thách thức, trốn tránh không gặp bà. Bởi vậy, bà khởi kiện ông Huỳnh Phước L; đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận giải quyết buộc ông L phải trả cho bà số tiền gốc đã vay là 150.000.000 đồng, bà không yêu cầu tính lãi, ngoài ra bà không có yêu cầu gì khác.
Bà và ông Lý Ngọc L1 chung sống với nhau như vợ chồng; toàn bộ số tiền 150.000.000 đồng bà cho ông Huỳnh Phước L vay là tiền của bà, không phải là tài sản chung của bà và ông Lý Ngọc L1.
Bà và ông Nguyễn Hữu Quốc B có mối quan hệ là bạn bè, ông B có cùng gia đình bà ra Ninh Thuận du lịch nhiều lần nên ông B cũng biết ông L.
Về chi phí tố tụng và án phí: Bà Huỳnh Thị Mộng H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại “Đơn xin xét xử vắng mặt” ngày 20/6/2024; nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Mộng H xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn là ông Huỳnh Phước L: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án; Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Huỳnh Phước L nhưng ông L không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Người làm chứng là ông Lý Ngọc L1 trình bày tại “Biên bản lấy lời khai của người làm chứng” ngày 19/01/2024 như sau:
Ông và ông Huỳnh Phước L có quen biết, gặp gỡ vì hai bên tới nhà nhau chơi nhiều lần. Do chung sống như vợ chồng với bà Huỳnh Thị Mộng H nên ông biết việc ông L điện thoại hỏi và bà H đã cho ông L vay tiền bằng cách tới Ngân hàng T2 (S) chi nhánh L2 nộp tiền vào tài khoản của người thân của ông L số tiền 150.000.000 đồng để cho ông L vay. Sau đó, ông có chứng kiến ông Huỳnh Phước L viết “Giấy vay tiền” đề ngày 05/9/2022, thừa nhận vay của bà H số tiền 150.000.000 đồng và cam kết sẽ trả hết vào ngày 30/5/2023.
Toàn bộ số tiền 150.000.000 đồng mà bà H cho ông L vay là tiền của bà H, không phải là tài sản chung của ông và bà H. Ông không có liên quan gì đến số tiền bà H cho ông L vay nên đề nghị Tòa án không đưa ông vào tham gia tố tụng với bất cứ tư cách gì trong vụ án. Nếu Tòa án đưa ông vào tham gia tố tụng với bất cứ tư cách gì trong vụ án thì ông xin được vắng mặt trong tất cả các giai đoạn tố tụng tại Tòa án và xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng là ông Nguyễn Hữu Quốc B trình bày tại “Bản khai” và “Biên bản lấy lời khai của người làm chứng” ngày 19/10/2023 như sau:
Ông và bà Huỳnh Thị Mộng H có mối quan hệ là bạn bè, còn ông Huỳnh Phước L thì ông không quen biết. Khoảng đầu tháng 9/2022, ông có cho bà H vay số tiền 150.000.000 đồng để bà H cho ông L mượn. Ông được biết ông L mượn tiền để mua đất và với quan hệ là dì cháu nên bà H cho ông L vay nhưng không tính lãi. Ông L có hứa hẹn sẽ trả cho bà H số tiền trên trong khoảng thời gian 01 đến 02 tháng kể từ khi vay.
Khoảng tháng 5/2023 khi bà H nhiều lần yêu cầu ông L trả tiền nhưng ông L không trả thì ông và bà H có ra nhà ông L đòi nợ thì thời điểm này ông L viết giấy tay đề ngày 05/9/2022 xác nhận nội dung vay tiền. Việc ông L viết giấy tay thì ông chứng kiến từ đầu đến cuối.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng và vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Người làm chứng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự và người làm chứng là đúng với quy định tại các Điều 227, 228, 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự (Viết tắt là BLTTDS).
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 của BLTTDS.
Căn cứ Điều 466 của BLDS 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Mộng H.
Buộc bị đơn là ông Huỳnh Phước L phải trả cho bà H số tiền 150.000.000 đồng.
Ngoài ra, đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Huỳnh Thị Mộng H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Huỳnh Phước L có nơi cư trú tại khu phố E, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận trả số tiền gốc đã vay. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS; xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.
[1.2]. Về sự vắng mặt của nguyên đơn: Tại “Đơn xin xét xử vắng mặt” ngày 20/6/2024; nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Mộng H xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của BLTTDS; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
[1.3]. Về sự vắng mặt của bị đơn, người làm chứng: Ông Huỳnh Phước L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Ông Nguyễn Hữu Quốc B vắng mặt, ông Lý Ngọc L1 đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 229 của BLTTDS, tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền gốc đã vay; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[2.1]. Tại “Giấy vay tiền” ngày 05/9/2022 giữa bà Huỳnh Thị Mộng H và ông Huỳnh Phước L thỏa thuận về số tiền vay, thời hạn trả tiền cũng như nghĩa vụ của bên vay. Căn cứ Điều 470 của Bộ luật dân sự (Viết tắt là BLDS); xác định đây là hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi.
Giao dịch giữa bà H và ông L dựa trên tinh thần tự nguyện, có nội dung phù hợp pháp luật và không trái đạo đức xã hội, phù hợp với Điều 463 của BLDS. Hội đồng xét xử nhận định đây là giao dịch hợp pháp, là căn cứ để giải quyết quyền và nghĩa vụ của các bên.
[2.2]. Tại “Giấy vay tiền” ngày 05/9/2022 (Bút lục 14), các bên thỏa thuận nội dung: Bà H cho ông L vay số tiền 150.000.000 đồng; thời hạn vay đến ngày 30/5/2023. Đến hạn trả tiền vay, ông L không thực hiện nghĩa vụ như đã thỏa thuận mặc dù bà H đã liên hệ, nhắc nhở nhiều lần.
[2.3]. Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ mà bà H cung cấp và do Tòa án thu thập gồm: “Giấy vay tiền” ngày 05/9/2022; Tờ khai chứng minh nhân dân ngày 14/11/2010 và Phiếu thu nhận thông tin căn cước công dân ngày 12/4/2021 của ông Huỳnh Phước L cũng như trong quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn là ông L vắng mặt và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào để phản bác hoặc phản tố đối với yêu cầu khởi kiện và chứng cứ mà bà H đưa ra.
[2.4]. Căn cứ lời khai làm chứng của ông Lý Ngọc L1, ông Nguyễn Hữu Quốc B và Kết luận giám định số 125/KL-KTHS ngày 22/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Chữ ký, chữ viết mang tên Huỳnh Phước L dưới mục “Người vay” trên tài liệu mẫu cần giám định ký hiệu A (Giấy vay tiền ngày 05/9/2022) so với chữ ký, chữ viết mang tên Huỳnh Phước L trên các tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký, viết ra” (Bút lục 48).
[2.5]. Từ các chứng cứ viện dẫn trên, căn cứ quy định tại Điều 466 của BLDS; có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Mộng H. Buộc ông Huỳnh Phước L có nghĩa vụ trả cho bà H số tiền gốc là 150.000.000 đồng.
[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với những nhận định trên, phù hợp với các quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng: Chi phí giám định chữ ký là 3.600.000 đồng; nguyên đơn yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ theo quy định tại Điều 161, Điều 162 của BLTTDS. Bà Huỳnh Thị Mộng H đã nộp tạm ứng số tiền trên nên buộc ông Huỳnh Phước L phải hoàn lại số tiền 3.600.000 đồng cho bà H.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 150.000.000 đồng và được Tòa án chấp nhận toàn bộ. Vì vậy, theo quy định tại Điều 147 của BLTTDS; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; bị đơn ông Huỳnh Phước L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.500.000 đồng.
Nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Mộng H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147; 160; 161; 162; 227; 228; 229; 271; 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Các Điều 463; 466; 468; 470; 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Mộng H.
- Buộc ông Huỳnh Phước L phải trả cho bà Huỳnh Thị Mộng H số tiền nợ gốc là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Huỳnh Phước L phải trả cho bà Huỳnh Thị Mộng H số tiền chi phí giám định chữ ký là 3.600.000 đồng (Ba triệu, sáu trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí:
- Ông Huỳnh Phước L phải chịu 7.500.000 đồng (Bảy triệu, năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Huỳnh Thị Mộng H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Huỳnh Thị Mộng H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.750.000 đồng (Ba triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005657 ngày 03/8/2023 của Chi cục thi hành dân sự thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn, bị đơn; quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hồng |
Bản án số 37/2024/DS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 37/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà Huỳnh Thị Mộng H + ông Huỳnh Phước L
