Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày 16 - 5 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Phan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sở;

Bà Nguyễn Thị Tĩnh.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thùy Trang–Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Hiền - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 11 và 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QĐST-HS ngày 26/4/2024 đối với bị cáo:

  • + Cù Thị Minh N, sinh năm 1979, tại Long An.

Hộ khẩu thường trú: C, đường T, thành phố T, tỉnh Long An; Chỗ ở hiện nay: 675, đường L, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cù Khắc C và bà Võ Thị L; chồng tên Võ Minh P (đã ly hôn); có 02 người con lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 12/9/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Anh Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 1997; Địa chỉ: Số B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Long An (Có đơn xin vắng mặt);

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Anh Trần Tấn P1, sinh năm 1995; Địa chỉ: Số F, ấp C, xã B, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt);
  • + Chị Trần Thị Thùy T, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số E, ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt);
  • + Anh Trần Thanh H1, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số C, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt);
  • + Chị Nguyễn Thị Ngọc L1, sinh năm 1996; Địa chỉ: Số I, ấp E, xã H, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt);
  • + Ông Nguyễn Minh C1, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số I, ấp E, xã H, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt);
  • + Ông Võ Trường G, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số D, đường N, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt);
  • + Bà Cao Thị Huyền T1, sinh năm 1982; Địa chỉ: T, khu phố D, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt);

Người bào chữa cho bị cáo Cù Thị Minh N: Luật sư Huỳnh Văn B – Văn phòng Luật sư Nguyễn Hòa B1 (Có mặt);

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Nguyễn Văn T2 – Văn phòng L4 (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có quen biết, khoảng tháng 3/2022, bị cáo Cù Thị Minh N có giới thiệu Nguyễn Hoàng H mua thửa đất số 555, tờ bản đồ số 16, diện tích 105,7 m², vị trí đất tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An. Thửa đất trên do bị cáo N đứng tên chủ sở hữu. Sau đó, bị cáo N có gửi vị trí đất qua zalo cho H. Trước ngày đặt cọc (18/3/2022), H rủ bạn Trần Tấn P1, đi xem đất; bị cáo Ngọc bận công việc nên không đi xem đất. Sau khi xem đất, H gọi bị cáo N hẹn ngày 18/3/2022 đặt cọc thửa đất số 555 trên. Ngày 18/3/2022, H rủ P1 đi cùng ra quán C2 ở đường N, phường D, Tp ., tỉnh Long An để mua thửa đất trên. Tại quán C2, P1 ghi hợp đồng đặt cọc với vai trò là người chứng kiến. Sau khi ghi hợp đồng đặt cọc, cả ba ký tên vào hợp đồng (riêng bị cáo N còn lăn tay vào hợp đồng); H đưa bị cáo N số tiền 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng) để mua thửa đất 555 trên; bị cáo N đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 747179 của thửa đất 555 cho Huấn giữ và hẹn đúng 01 tháng ra công chứng sang tên cho H.

Đến ngày 31/3/2022, bị cáo N gọi cho H nói là kẹt tiền, cần bán thêm miếng đất nữa; H yêu cầu bị cáo N đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước rồi mới mua. Bị cáo N hẹn H khoảng 21, 22 giờ cùng ngày mới có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (do bị cáo N nói là thửa đất đó bị cáo đã mua rồi, sang tên cho bị cáo rồi đang chờ người đem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về). Huấn và P1 ngồi ở quán cafe chờ hoài không thấy nên cả hai đi về. Đến sáng 01/4/2022, bị cáo N gọi báo là có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi. H rủ P1 đến nhà bị cáo N lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 157, tờ bản đồ số 7, diện tích 309,4 m², vị trí đất tại ấp E, xã V, huyện C, tỉnh Long An. Bị cáo N kêu H và P1 đi xem đất, bị cáo bận không đi được. Do nghi ngờ, H và P1 cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến Văn phòng C3 để kiểm tra. Tại Văn phòng công chứng, nhân viên báo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có vấn đề, yêu cầu chủ đất ra văn phòng công chứng. Sau đó, nhân viên đánh hợp đồng đặt cọc thửa đất số 157. P1 chở bị cáo N ra Văn phòng công chứng, yêu cầu bị cáo N ký vào hợp đồng đặt cọc, P1 mới đưa tiền cho bị cáo N. Lúc này, bị cáo N không chịu ký do bị cáo nói mượn được tiền rồi nên không bán thửa đất 157. Sau đó, H yêu cầu bị cáo N ký lại hợp đồng đặt cọc thửa đất 555 tại văn phòng công chứng (do lúc trước đặt tay, chưa công chứng). Nhưng bị cáo N không chịu ký, sau đó Văn phòng công chứng trình báo Công an.

Qua điều tra, xác định thửa đất số 555, tờ bản đồ số 16, diện tích 105,7 m², vị trí đất tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An do bà Nguyễn Thị Ngọc L1, sinh năm 1996 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thửa đất số 157, tờ bản đồ số 7, diện tích 309,4 m², vị trí đất tại ấp E, xã V, huyện C, tỉnh Long An do bà Hồ Thị Tuyết M, sinh năm 1984 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 24/3/2022, sau đó, bị cáo N có mua lại thửa đất 157, đến ngày 19/4/2022, bị cáo N mới đứng tên chủ sở hữu thửa đất 157.

Tại Bản Kết luận giám định số số 548/KL-KTHS ngày 11/7/2022 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 065881, thửa đất số 157, tờ bản đồ số 7, diện tích 309,4 m², vị trí đất tại ấp E, xã V, huyện C, tỉnh Long An và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 747179, thửa đất số 555, tờ bản đồ số 16, diện tích 105,7 m², vị trí đất tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An là giấy giả.

Đồ vật, tài liệu thu giữ gồm:

  • - 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 065881, thửa đất số 157, tờ bản đồ số 7, diện tích 309,4 m², vị trí đất tại ấp E, xã V, huyện C, tỉnh Long An do Cù Thị Minh N đứng tên sở hữu.
  • - 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 747179, thửa đất số 555, tờ bản đồ số 16, diện tích 105,7 m², vị trí đất tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An do Cù Thị Minh N đứng tên sở hữu.
  • - 01 Hợp đồng đặt cọc giữa Cù Thị Minh N và Nguyễn Hoàng H ngày 18/3/2022 về việc mua bán thửa đất số 555, tờ bản đồ số 16, diện tích 105,7 m², vị trí đất tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
  • - 01 Hợp đồng đặt cọc giữa Nguyễn Minh C1 và Cù Thị Minh N ngày 12/3/2022 về việc đặt cọc mua 02 thửa đất: thửa đất số 555 và 556, tờ bản đồ số 16, diện tích 105,7 m² + 123,9 m², vị trí đất tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
  • - 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Minh C1, Nguyễn Thị Mộng L2 và Cù Thị Minh N ngày 18/3/2022 về việc mua bán thửa đất 556, tờ bản đồ số 16, diện tích 123,9 m², vị trí đất tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
  • - 02 Biên lai thu tiền phí, lệ phí của của Văn phòng đăng ký đất đai Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L ngày 30/3/2022 thu phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 556.
  • - 02 giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước của Cù Thị Minh N và 03 giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước của Nguyễn Minh C1 liên quan việc mua bán thửa đất 556 ngày 30/3/2022.
  • - 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Hồ Thị Tuyết M, Lương Hoàng L3 và Cù Thị Minh N về việc mua bán thửa đất số 157, tờ bản đồ số 7, diện tích: 309,4 m², vị trí đất tại ấp E, xã V, huyện C, tỉnh Long An.
  • - 01 Biên nhận ngày 01/4/2022 giữa Cù Thị Minh N và Nguyễn Hoàng H về việc tất toán số tiền 400.000.000 đồng.

Cáo trạng số 37/CT-VKSTA ngày 15/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố bị cáo Cù Thị Minh N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Cù Thị Minh N khai nhận: Qua mạng xã hội bị cáo biết được dịch vụ làm giả giấy tờ, sau đó bị cáo có liên hệ và thỏa thuận làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 747179, thửa đất số 555, tờ bản đồ số 16, diện tích 105,7m², vị trí đất tại ấp B, xã P, huyện C tỉnh Long An đứng tên Cù Thị Minh N với giá 5.000.000đ. Bị cáo nhờ Phạm Hữu N1 giao số tiền 5.000.000đ cho người làm giả giấy tờ tại quán cà phê, khi nhận tiền từ bị cáo thì N1 không biết đó là tiền thuê làm giả giấy tờ. Sau đó vài ngày thì có người mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 747179 giả đến ném vô nhà bị cáo. Do mẹ bị cáo bị bệnh cần tiền chữa trị nên bị cáo có liên hệ anh Nguyễn Hoàng H để vay số tiền 400.000.000đ, tuy nhiên anh H yêu cầu bị cáo phải có tài sản thế chấp để làm tin. Ngày 18/3/2022 thì bị cáo gặp anh H tại quán C2 bị cáo đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 747179 giả cho anh H để vay số tiền 400.000.000đ nhưng thực tế bị cáo chỉ nhận được 320.000.000đ và anh H có yêu cầu bị cáo ký tên vào hợp đồng đặt cọc ngày 18/3/2022. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 065881, thửa đất số 157, tờ bản đồ số 7, diện tích 309,4 m², vị trí đất tại ấp E, xã V, huyện C, tỉnh Long An do Cù Thị Minh N đứng tên, bị cáo không có thuê người làm giả và khi nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này thì bị cáo có đề nghị anh H đi kiểm tra coi giấy thật hay giả và giữa bị cáo và anh H cũng không có thỏa thuận mua bán thửa đất số 157. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo có liên hệ anh H đề trả lại số tiền 400.000.000đ. Bị cáo không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không có khiếu nại đối với cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Cù Thị Minh N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, về hình phạt chính:

  • - Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Cù Thị Minh N mức án từ 04 năm đến 05 năm tù.
  • - Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Cù Thị Minh N mức án từ 03 năm đến 04 năm tù.
  • - Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, đề nghị tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng:

  • - 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 065881, thửa đất số 157, tờ bản đồ số 7, diện tích 309,4 m², vị trí đất tại ấp E, xã V, huyện C, tỉnh Long An do Cù Thị Minh N đứng tên sở hữu.
  • - 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY7 47179, thửa đất số 555, tờ bản đồ số 16, diện tích 105,7 m², vị trí đất tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An do Cù Thị Minh N đứng tên sở hữu.
  • - 01 Hợp đồng đặt cọc giữa Cù Thị Minh N và Nguyễn Hoàng H ngày 18/3/2022 về việc mua bán thửa đất số 555, tờ bản đồ số 16, diện tích 105,7 m², vị trí đất tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
  • - 01 Hợp đồng đặt cọc giữa Nguyễn Minh C1 và Cù Thị Minh N ngày 12/3/2022 về việc đặt cọc mua 02 thửa đất: thửa đất số 555 và 556, tờ bản đồ số 16, diện tích 105,7 m² + 123,9 m², vị trí đất tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
  • - 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Minh C1, Nguyễn Thị Mộng L2 và Cù Thị Minh N ngày 18/3/2022 về việc mua bán thửa đất 556, tờ bản đồ số 16, diện tích 123,9 m², vị trí đất tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
  • - 02 Biên lai thu tiền phí, lệ phí của của Văn phòng đăng ký đất đai Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L ngày 30/3/2022 thu phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 556.
  • - 02 giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước của Cù Thị Minh N và 03 giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước của Nguyễn Minh C1 liên quan việc mua bán thửa đất 556 ngày 30/3/2022.
  • - 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Hồ Thị Tuyết M, Lương Hoàng L3 và Cù Thị Minh N về việc mua bán thửa đất số 157, tờ bản đồ số 7, diện tích: 309,4 m², vị trí đất tại ấp E, xã V, huyện C, tỉnh Long An.
  • - 01 Biên nhận ngày 01/4/2022 giữa Cù Thị Minh N và Nguyễn Hoàng H về việc tất toán số tiền 400.000.000 đồng.

Đây là vật chứng của vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử lưu vào hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Hoàng H không yêu cầu giải quyết.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Luật sư Huỳnh Văn B trình bày: Ông thống nhất với tội danh mà vị đại diện Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo N. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo thành thật khai báo về hành vi phạm tội, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Do đo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 54 Bộ luật hình sự xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày: Mặc dù bị hại có ký tên biên nhận thể hiện đã nhận lại số tiền 400.000.000đ nhưng thực tế bị hại không có nhận tiền mà chỉ ký để bị cáo không bị công an mời làm việc. Tuy nhiên nay bị hại cũng không có yêu cầu đối với số tiền 400.000.000đ. Tuy nhiên thấy rằng lời khai của bị cáo về số tiền 400.000.000₫ là thiếu trung thực nên đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc khi áp dụng tình tiết thật thà khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết mình sai và hối hận với hành vi phạm tội của mình, đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.

[2] Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa nhưng xét thấy trong giai đoạn điều tra đã thể hiện đầy đủ lời khai và ý kiến của các đương sự này nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự này theo quy định tại điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên tòa bị cáo Cù Thị Minh N thừa nhận đã sử dụng giấy chứng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 747179, thửa đất số 555, tờ bản đồ số 16, diện tích 105,7m², vị trí đất tại ấp B, xã P, huyện C tỉnh Long An đứng tên Cù Thị Minh N là giả nhằm mục đích mang cầm cố cho anh Nguyễn Hoàng H để vay tiền và chiếm đoạt của anh H số tiền 400.000.000đ. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với biên bản sự việc, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đủ cơ sở để kết luận hành vi nêu trên của bị cáo Cù Thị Minh N đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” được quy định tại Điều 341 Bộ luật hình sự.

[4] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức để chiếm số tiền 400.000.000đ là vi phạm tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố bị cáo về hành vi theo các tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

[5] Xét, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân, là khách thể được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, bị cáo nhận thức được việc sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức để chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do muốn có tiền tiêu xài một cách bất chính nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[6] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã bồi thường cho bị hại được số tiền 400.000.000₫ đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

[8] Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, số tiền chiếm đoạt lớn, quá trình điều tra, truy tố bị cáo khai báo không thành thật khai báo thật gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng, do đó Hội đồng xét xử quyết định không chấp nhận lời đề nghị của người bào chữa cho bị cáo.

[9] Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo từ 04 năm đến 05 năm tù về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xét thấy mức án của đại diện viện kiểm sát là chưa tương xứng với hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị hại Nguyễn Hoàng H yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã chiếm đoạt là 400.000.000đ và bị cáo có giao nộp biên nhận ngày 01/4/2022 thể hiện đã trả anh H số tiền 400.000.000đ. Anh H cho rằng chưa nhận số tiền này mục đích ký tên vào biên nhận là để bị cáo không bị công an mời làm việc, ngược lại bị cáo cho rằng đã trả anh H số tiền 400.000.000đ theo biên nhận ngày 01/4/2022. Tại đơn thay đổi yêu cầu về trách nhiệm dân sự ngày 18/4/2024, anh Nguyễn Hoàng H xin rút lại yêu cầu về trách nhiệm dân sự. Do anh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[11] Xử lý vật chứng: Đối với các vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 065881, thửa đất số 157, tờ bản đồ số 7, diện tích 309,4 m², vị trí đất tại ấp E, xã V, huyện C, tỉnh Long An do Cù Thị Minh N đứng tên sở hữu.
  • - 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 747179, thửa đất số 555, tờ bản đồ số 16, diện tích 105,7 m², vị trí đất tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An do Cù Thị Minh N đứng tên sở hữu.
  • - 01 Hợp đồng đặt cọc giữa Cù Thị Minh N và Nguyễn Hoàng H ngày 18/3/2022 về việc mua bán thửa đất số 555, tờ bản đồ số 16, diện tích 105,7 m², vị trí đất tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
  • - 01 Hợp đồng đặt cọc giữa Nguyễn Minh C1 và Cù Thị Minh N ngày 12/3/2022 về việc đặt cọc mua 02 thửa đất: thửa đất số 555 và 556, tờ bản đồ số 16, diện tích 105,7 m² + 123,9 m², vị trí đất tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
  • - 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Minh C1, Nguyễn Thị Mộng L2 và Cù Thị Minh N ngày 18/3/2022 về việc mua bán thửa đất 556, tờ bản đồ số 16, diện tích 123,9 m², vị trí đất tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
  • - 02 Biên lai thu tiền phí, lệ phí của của Văn phòng đăng ký đất đai Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L ngày 30/3/2022 thu phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 556.
  • - 02 giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước của Cù Thị Minh N và 03 giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước của Nguyễn Minh C1 liên quan việc mua bán thửa đất 556 ngày 30/3/2022.
  • - 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Hồ Thị Tuyết M, Lương Hoàng L3 và Cù Thị Minh N về việc mua bán thửa đất số 157, tờ bản đồ số 7, diện tích: 309,4 m², vị trí đất tại ấp E, xã V, huyện C, tỉnh Long An.
  • - 01 Biên nhận ngày 01/4/2022 giữa Cù Thị Minh N và Nguyễn Hoàng H về việc tất toán số tiền 400.000.000 đồng.

Xét thấy: Đây là các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, do Hội đồng xét xử quyết định lưu vào hồ sơ vụ án.

[12] Đối với hành vi làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 065881, thửa đất số 157, tờ bản đồ số 7, diện tích 309,4 m², vị trí đất tại ấp E, xã V, huyện C, tỉnh Long An do Cù Thị Minh N đứng tên. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không thừa nhận đã làm giả giấy chứng nhận này. Quá trình điều tra thể hiện giữa bị cáo và anh H cũng chưa có thỏa thuận mua bán đối với thửa đất này nên không đủ cấu thành tội phạm đối với hành vi này của bị cáo, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[13] Đối với người làm và đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 747179, thửa 555 giả cho bị cáo, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

[14] Đối với Phạm Hữu N1, sinh năm 1989, HKTT: Chợ M, An G1 là người giao tiền làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 747179, thửa 555 giả thay cho bị cáo N, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã tra Ủy thác xác minh đến Cơ quan Cảnh sát Điều tra công an Huyện C, tỉnh An Giang, kết quả không thể xác minh được đối tượng do không có địa chỉ cụ thể.

[15] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố bị cáo Cù Thị Minh N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

  • - Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Cù Thị Minh N 07 (Bảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • - Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 341; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Cù Thị Minh N 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  • - Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 10 (Mười) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành án tính từ ngày 12/9/2023.

2/ Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Cù Thị Minh N 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (16/5/2024) để đảm bảo cho việc thi hành án.

3/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Lưu vào hồ sơ vụ án:

  • - 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 065881, thửa đất số 157, tờ bản đồ số 7, diện tích 309,4 m², vị trí đất tại ấp E, xã V, huyện C, tỉnh Long An do Cù Thị Minh N đứng tên sở hữu.
  • - 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 747179, thửa đất số 555, tờ bản đồ số 16, diện tích 105,7 m², vị trí đất tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An do Cù Thị Minh N đứng tên sở hữu.
  • - 01 Hợp đồng đặt cọc giữa Cù Thị Minh N và Nguyễn Hoàng H ngày 18/3/2022 về việc mua bán thửa đất số 555, tờ bản đồ số 16, diện tích 105,7 m², vị trí đất tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
  • - 01 Hợp đồng đặt cọc giữa Nguyễn Minh C1 và Cù Thị Minh ngọc ngày 12/3/2022 về việc đặt cọc mua 02 thửa đất: thửa đất số 555 và 556, tờ bản đồ số 16, diện tích 105,7 m² + 123,9 m², vị trí đất tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
  • - 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Minh C1, Nguyễn Thị Mộng L2 và Cù Thị Minh N ngày 18/3/2022 về việc mua bán thửa đất 556, tờ bản đồ số 16, diện tích 123,9 m², vị trí đất tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
  • - 02 Biên lai thu tiền phí, lệ phí của của Văn phòng đăng ký đất đai Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L ngày 30/3/2022 thu phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 556.
  • - 02 giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước của Cù Thị Minh N và 03 giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước của Nguyễn Minh C1 liên quan việc mua bán thửa đất 556 ngày 30/3/2022.
  • - 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Hồ Thị Tuyết M, Lương Hoàng L3 và Cù Thị Minh N về việc mua bán thửa đất số 157, tờ bản đồ số 7, diện tích: 309,4 m², vị trí đất tại ấp E, xã V, huyện C, tỉnh Long An.
  • - 01 Biên nhận ngày 01/4/2022 giữa Cù Thị Minh N và Nguyễn Hoàng H về việc tất toán số tiền 400.000.000 đồng.

4/ Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa. Buộc bị cáo Cù Thị Minh N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi Nhận :

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tỉnh Long An
  • - VKSND Tp Tân An;
  • - CA Tp Tân An;
  • - Chi cục THA Tp Tân An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
  • - Bị cáo; Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ; VP./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Tuấn Phan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cù Thị Minh Ng "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger