|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2024/HS-ST Ngày 16 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn A Dén, ông Thào A Chinh
Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm hình thức trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 04/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST- HS ngày 04/5/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn V- Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1974 tại huyện T tỉnh Điện Biên. Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Bản P, xã B, huyện T, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 2/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn Th (đã chết) và bà Quàng Thị P (đã chết); Vợ Lò Thị Ng (đã ly hôn); Năm 2000 sống chung như vợ chồng với Điêu Thị Nh - Sinh năm 1978; Bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị Tòa án nào xét xử.
Tạm giữ từ ngày 04/01/2024 đến ngày 10/01/2024, tạm giam từ ngày 10/01/2024 đến nay. Bị cáo có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Quàng Văn Ph - Sinh năm 1960. Nơi cư trú: Bản N, xã T, huyện G, tỉnh Điện Biên. Văng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người tham gia tố tụng khác:
- + Người phiên dịch: bà Lò Thị T - Sinh năm 1980. Nơi cư trú: Bản B, thị trấn C, huyện T, tỉnh Điện Biên. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
- + Ông Trần Ngọc Thiện – Kiểm tra viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 03/01/2024 bị cáo Lò Văn V mượn xe mô tô của ông Quàng Văn Ph, một mình điều khiển xe đi từ nhà tại Bản P, xã B, huyện T, tỉnh Điện Biên đi đến tổ dân phố Q, thị trấn C, huyện T để tìm mua ma túy sử dụng, tại đây bị cáo có gặp một người phụ nữ dân tộc Thái khoảng 50 tuổi, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này hỏi mua được 01 gói ma tuý được gói ngoài bằng mảnh giấy nilon màu hồng với giá 70.000 đồng. Sau khi mua được bị cáo cất giấu gói ma túy trong túi quần bên trái đang mặc của mình rồi điều khiển xe mô tô đi xuống xã T, huyện G. Đến 23 giờ 15 phút cùng ngày, khi đến đoạn đường thuộc thôn H, xã B, huyện T thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Vật chứng thu giữ gồm:
- - 01 gói được gói ngoài bằng mảnh giấy nilon màu hồng bên trong gói có các cục chất bột màu trắng thể rắn; 01 viên nén màu hồng, một mặt của viên nén có chữ WY.
- - 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu SYM, màu xanh - trắng, biển kiểm soát 27Z1 - 222.xx (xe cũ đã qua sử dụng).
Hồi 02 giờ 30 phút, ngày 04/01/2024 Cơ quan điều tra mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, xác định vật chứng thu giữ của Lò Văn V: Các cục chất bột màu trắng thể rắn có khối lượng 0,0276 gam lấy toàn bộ làm mẫu vật gửi giám định ký hiệu H1; 01 viên nén màu hồng có khối lượng 0,1078 gam lấy toàn bộ làm mẫu vật gửi giám định ký hiệu M1.
Kết luận giám định số: 228/KL - PC09 ngày 14/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Lò Văn V có khối lượng 0,0276 gam các cục chất bột màu trắng là chất ma túy: Loại Heroine và 0,1078 gam viên nén màu hồng là chất ma túy: Loại Methamphetamine. Hoàn mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: H1: 0,005 gam; M1: 0,07 gam và toàn bộ bao bì niêm phong cũ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Quàng Văn Ph có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo về việc cho bị cáo mượn xe mô tô và không biết việc bị cáo mượn xe mô tô để làm phương tiện đi mua ma túy, do đó ngày 22/01/2024 Cơ quan điều tra Công an huyện Tủa Chùa đã xử lý vật chứng trả lại lại xe mô tô cho ông Quàng Văn Ph.
Cáo trạng số 13/CT - VKSHTC ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa truy tố bị cáo Lò Văn V về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; chấp nhận quyết định xử lý vật chứng của cơ quan điều tra về việc trả lại xe mô tô cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Quàng Văn Ph và buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Quàng Văn Ph. Xét thấy người vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, đã có lời khai trong quá trình điều tra và sự vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Xét về hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến bắt quả tang bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả thu giữ vật chứng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và Bản kết luận giám định của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.
Có đủ cơ sở kết luận ngày 03/01/2024 bị cáo đã một mình mua được 02 chất ma túy với giá 70.000 đồng của người phụ nữ không quen biết tại tổ dân phố Quyết Tiến, thị trấn Tủa Chùa. Khi mua được bị cáo cất giấu gói ma túy trong túi quần bên trái đang mặc và trên đường đi xe mô tô đến thôn H, xã B đã bị Cơ quan điều tra Công an huyện T bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã cố ý mua 0,0276 gam Heroine và 0,1078 gam Methamphetamine, tổng khối lượng hai chất ma túy là 0,1354 gam. Hành vi cất giấu trái phép hai chất ma túy của bị cáo với mục đích sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo là người nghiện chất ma túy, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo. Do đó đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính đối với bị cáo là có căn cứ.
[4] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của Cơ quan điều tra và tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có tài sản gì giá trị, không có việc làm và thu nhập thường xuyên, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu tài sản theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Về vấn đề khác có liên quan: Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được họ tên, địa chỉ nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét, xử lý.
[6] Về vật chứng vụ án:
Đối với khối lượng 0,005 gam Heroine và 0,07 gam Methamphetamine còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ; 01 gói niêm phong bì thư màu trắng do Công an huyện Tủa Chùa phát hành là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM, màu xanh - trắng, biển kiểm soát 27Z1 - 222.xx đã làm rõ thuộc sở hữu hợp pháp của ông Quàng Văn Ph, ông Ph không biết bị cáo mượn xe để thực hiện hành vi phạm tội, nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho ông Quàng Văn Ph là phù hợp.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn V phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy "
- Hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn V 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 04/01/2024.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 gói niêm phong bì thư màu trắng do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên phát hành ghi mẫu vật hoàn lại theo kết luận giám định số 228/KL -KTHS ngày 14/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.
- - 01 gói niêm phong bì thư màu trắng do Công an huyện Tủa Chùa phát hành mặt trước gói niêm phong ghi vật chứng còn lại vụ Lò Văn V (có 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ gói niêm phong cũ).
Số vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện T đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện T.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Kháng cáo: Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/5/2024); Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án phần liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Tòng Thị Lan |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 03/01/2024 bị cáo Lò Văn V mượn xe mô tô của ông Quàng Văn Ph, một mình điều khiển xe đi từ nhà tại Bản P, xã B, huyện T, tỉnh Điện Biên đi đến tổ dân phố Q, thị trấn C, huyện T để tìm mua ma túy sử dụng, tại đây bị cáo có gặp một người phụ nữ dân tộc Thái khoảng 50 tuổi, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này hỏi mua được 01 gói ma tuý được gói ngoài bằng mảnh giấy nilon màu hồng với giá 70.000 đồng. Sau khi mua được bị cáo cất giấu gói ma túy trong túi quần bên trái đang mặc của mình rồi điều khiển xe mô tô đi xuống xã T, huyện G. Đến 23 giờ 15 phút cùng ngày, khi đến đoạn đường thuộc thôn H, xã B, huyện T thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
