Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM ĐỘNG

TỈNH HƯNG YÊN

Bản án số: 37/2024/HSST

Ngày 16/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Duy Trĩnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Minh và bà Vũ Thị Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên: Ông Bùi Kim Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 16/5/2024, tại trụ sở UBND xã M, huyện K, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/TLST - HS ngày 04/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST - HS ngày 03/5/2024 đối với bị cáo: Nguyễn Quang P, sinh năm: 1993, giới tính: Nam, tên gọi khác: Không có. Nơi cư trú: H, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Dân tộc: Kinh, Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12, nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Nguyễn Quang H, sinh năm: 1973 và bà: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1972. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn. Vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1998; có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2021.

- Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 09/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

- Bà Vũ Thị M - sinh năm: 1975 (vắng mặt).

- Ông Vũ Hồng T - sinh năm: 1975 (vắng mặt).

Đều trú tại: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do thường xuyên sử dụng chất ma túy đá (Methamphetamine) nên chiều ngày 06/01/2024, Nguyễn Quang P, sinh năm 1993; hộ khẩu thường trú tại thôn H, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên đã sử dụng mạng xã hội Z gọi điện cho một người bạn tên là G (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) xin ma túy để sử dụng. G đồng ý và hẹn P đến nhà nghỉ P1 có địa chỉ tại thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên để G cho P ma túy. Sau đó P rủ một người bạn tên là T1 (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) đi cùng P đến nhà nghỉ P1 (P không nói cho T1 biết là P đi xin ma túy). Khi đến nơi, T1 ở ngoài còn P đi vào nhà nghỉ P1 và đi lên phòng trên tầng hai gặp G. Tại đây G đưa cho P 01 túi nilon bên trong có chứa chất tinh thể dạng cục và bột màu trắng. Đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, khi P cầm gói ma túy vừa xin được nói trên đi xuống cầu thang tìm chỗ để sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện K phối hợp cùng Công an xã H kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: Tại lòng bàn tay phải của P 01 gói nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng dạng cục và bột, P khai nhận là ma túy đá (M1) và 01 chiếc điện thoại di động Oppo màu vàng, toàn bộ vật chứng đã được niêm phong theo quy định.

Cùng ngày 06/01/2024, cơ quan CSĐT Công an huyện K khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Quang P tại thôn H, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên, kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại Kết luận giám định số 166/KL-KTHS(MT) ngày 09/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong, có khối lượng là: 1,028 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Cơ quan cảnh sát điều tra đã nhập kho vật chứng chờ xử lý đối với 01 niêm phong ghi số 166/KL-KTHS(MT) bên trong có: 0,988 gam ma túy, loại Methamphetamine; 01 túi nilon đựng ma túy; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định và 01 chiếc điện thoại di động Oppo màu vàng P sử dụng để liên lạc với đối tượng P khai tên là G để xin ma túy.

Đối với đối tượng P khai tên G đã cho P ma túy và nam thanh niên tên T1 đưa xe mô tô cho P và đi cùng P đến nhà nghỉ P1. Do P khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của hai người nói trên, Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xác minh làm rõ, nay tiếp tục điều tra làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.

Cáo trạng số: 31/CT-VKSKĐ ngày 03/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, truy tố bị cáo Nguyễn Quang P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Quang P. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a; c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a; c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt Nguyễn Quang P từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Tịch thu, cho tiêu hủy 01 niêm phong ghi số 166/KL-KTHS(MT) bên trong có: 0,988 gam ma túy, loại Methamphetamine; 01 túi nilon đựng ma túy; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. Tịch thu cho phát mại để nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Oppo màu vàng. Đối với đối tượng tên G đã cho P ma túy và nam thanh niên tên T1 đưa xe mô tô cho P và đi cùng P đến nhà nghỉ P1. Do P khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của hai người nói trên, Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xác minh làm rõ, nay tiếp tục điều tra làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, việc giao nộp và thu thập tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo, của người làm chứng, cùng các chứng cứ, tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 06/01/2024, tại nhà nghỉ P1 có địa chỉ tại thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Quang P đã tàng trữ trái phép 1,028 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Quang P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 31/CT - VKSKĐ ngày 03/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động là hoàn toàn có căn cứ, chính xác, đúng người, đúng tội.

[3] Về nhân thân, tiền án, tiền sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự và lần đầu phạm tội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy; gây mất trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và một số tội phạm khác, chỉ vì muốn đáp ứng nhu cầu sử dụng ma tuý của mình, bị cáo đã coi thường kỷ cương, bất chấp pháp luật thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, nên cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội.

Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, với đặc điểm nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã phân tích ở trên, cần thiết phải cho cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mục đích để trừng trị kẻ phạm tội và để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng không phải vì vụ lợi. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng: Căn cứ điểm a; c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a; c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

- Đối với 01 niêm phong ghi số 166/KL-KTHS(MT) bên trong có: 0,988 gam ma túy, loại Methamphetamine; 01 túi nilon đựng ma túy; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị nên cần tịch thu, cho tiêu hủy.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động Oppo màu vàng được sử dụng làm phương tiện liên lạc nhằm mục đích xin ma túy để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu cho phát mại để nộp ngân sách nhà nước.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/5/2024 của Công an huyện K).

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quang P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[10] Đối với đối tượng tên G đã cho P ma túy và nam thanh niên tên T1 đưa xe mô tô cho P và đi cùng P đến nhà nghỉ P1. Do P khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của hai người nói trên, Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xác minh làm rõ, nay tiếp tục điều tra làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Nguyễn Quang P 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 06/01/2024.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a; c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a; c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

- Tịch thu cho tiêu hủy 01 niêm phong ghi số 166/KL-KTHS(MT) bên trong có: 0,988 gam ma túy, loại Methamphetamine; 01 túi nilon đựng ma túy; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

- Tịch thu cho phát mại để nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Oppo màu vàng.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/5/2024 của Công an huyện K).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Quang P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án (16/5/2024).

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV và THA TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên.
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hưng Yên.
  • - Viện kiểm sát, Công an huyện Kim Động;
  • - Chi cục THADS huyện Kim Động;
  • - Bị cáo;
  • - UBND Thành Công, Hiệp Cường;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đào Duy Trĩnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HSST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 37/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger