Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN T

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/DS-ST

Ngày: 15/8/2024

V/v “Tranh chấp đòi tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Phạm Thị Thu Trang

- Ông Từ Tứ Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Huỳnh, thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang: không tham gia phiên toà.

Trong ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 107/2024/TLST–DS ngày 10 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:47/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Trần Văn N, sinh năm 1969 (Có mặt)

Địa chỉ: Số nhà D, ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

* Bị đơn: Bà Đoàn Thị Đ, sinh năm 1970 (Có mặt)

Địa chỉ: Tổ E, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Trần Văn N trình bày trình bày: Ông và bà Đoàn Thị Đ là vợ chồng chấp nối có đăng ký kết hôn vào ngày 04/01/2023, quá trình chung sống ông và bà Đ không có tạo lập tài sản chung, khi chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên hiện nay ông và bà Đ thống nhất ly hôn và đang được Toà án nhân dân huyện Tân Hiệp thụ lý giải quyết số 132/TLST-HNGĐ ngày 10/6/2024. Trong thời gian chung sống thì vào ngày 17/12/2023, bà Đoàn Thị Đ có nhờ ông đến Cơ sở vật liệu xây dựng (Tư Dễ) mua cát, đá, xi măng, sắt về cho bà Đ sửa chữa căn nhà là tài sản riêng của bà Đ với tổng số tiền là: 23.171.000 đồng ( Hai mươi ba triệu một trăm bảy mươi mốt nghìn đồng). Ông đã giao số vật liệu xây dựng nêu trên cho bà Đ và bà Đ đã sữa xong căn nhà. Tuy nhiên đến nay bà Đ vẫn chưa trả tiền vật liệu xây dựng cho ông.

1

Do đó, ông yêu cầu Toà án buộc bà Đoàn Thị Đ trả cho ông số tiền là 23.171.000 đồng ( Hai mươi ba triệu một trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) và yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật từ ngày 17/12/2023 cho đến ngày xét xử sơ thẩm.

Ông không đồng ý cho bà Đ trả dần.

Tại phiên tòa ông yêu cầu Toà án buộc bà Đoàn Thị Đ trả cho ông số tiền là 23.171.000 đồng ( Hai mươi ba triệu một trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) và ông không tiếp tục yêu cầu Toà án tính lãi.

Ông không đồng ý cho bà Đ trả dần.

Ngoài ra, ông không còn ý kiến hay yêu cầu nào khác.

Tại Phiên họp kiểm tra việc, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tại phiên tòa bị đơn bà Đoàn Thị Đ trình bày: Bà và ông Trần Văn N là vợ chồng chấp nối có đăng ký kết hôn vào ngày 04/01/2023, quá trình chung sống bà và ông N không có tạo lập tài sản chung, khi chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên hiện nay vợ chồng bà thống nhất ly hôn và đang được Toà án nhân dân huyện Tân Hiệp thụ lý giải quyết số 132/TLST-HNGĐ ngày 10/6/2024. Bà thừa nhận vào ngày 17/12/2023, bà có nhờ ông Trần Văn N đến Cơ sở vật liệu xây dựng để mua cát, đá, xi măng, sắt về cho bà sửa căn nhà là tài sản riêng của bà với tổng số tiền là: 23.171.000 đồng ( Hai mươi ba triệu một trăm bảy mươi mốt nghìn đồng). Ông N đã giao số vật liệu xây dựng này cho bà và bà đã sửa xong nhà. Việc ông N mua vật liệu xây dựng ở cơ sở nào thì bà không biết.

Bà đồng ý trả cho ông Nghiệm số tiền mua cát, đá, xi măng, sắt để sửa căn nhà là tài sản riêng của bà là 23.171.000 đồng ( Hai mươi ba triệu một trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) và lãi suất theo quy định pháp luật từ ngày 17/12/2023 cho đến ngày xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, hiện tại bà đang có khó khăn về kinh tế nên bà xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi dứt nợ.

Tại phiên toà, B đồng ý trả cho ông Nghiệm số tiền mua cát, đá, xi măng, sắt để sửa căn nhà là tài sản riêng của bà là 23.171.000 đồng ( Hai mươi ba triệu một trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) và thống nhất việc ông N không tiếp tục yêu cầu tính lãi. Tuy nhiên, hiện tại bà đang có khó khăn về kinh tế nên bà xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi dứt nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Trần Văn N khởi kiện yêu cầu bà Đoàn Thị Đ trả số tiền vật liệu xây dựng là 23.171.000 đồng ( Hai mươi ba triệu một trăm bảy mươi mốt nghìn đồng). Đây là quan hệ tranh chấp đòi tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thẩm quyền: Ông Trần Văn N khởi kiện bà Đoàn Thị Đ có nơi cư trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 điểm a

2

khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung: Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N. Hội đồng xét xử xét thấy, trong suốt quá trình giải quyết vụ án phía ông Trần Văn N và bà Đoàn Thị Đ đều thống nhất xác định 17/12/2023, bà Đoàn Thị Đ có nhờ ông N đến Cơ sở vật liệu xây dựng (T) để mua cát, đá, xi măng, sắt về cho bà Đoàn Thị Đ sửa căn nhà là tài sản riêng của bà Đ với tổng số tiền là: 23.171.000 đồng ( Hai mươi ba triệu một trăm bảy mươi mốt nghìn đồng). Đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án bà Đ đồng ý trả cho ông Nghiệm số tiền 23.171.000 đồng ( Hai mươi ba triệu một trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) nên Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận.

Về lãi suất: Tại phiên toà, ông N thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện về việc không tiếp tục yêu cầu Tòa án tính lãi đối với số tiền 23.171.000 đồng theo quy định pháp luật mà chỉ yêu cầu bà Đ trả tiền gốc. Xét việc thay đổi yêu cầu khởi kiện này hoàn toàn tự nguyện, không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận việc thay đổi một phần khởi kiện của phía nguyên đơn, không xem xét về phần lãi suất.

Xét yêu cầu xin trả nợ dần của bà Đoàn Thị Đ về việc xin được trả nợ cho bà Đ mỗi tháng với số tiền 500.000 đồng cho đến khi dứt số tiền 23.171.00 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã tạo điều kiện cho các bên thỏa thuận về thời hạn và số tiền phải trả nợ, nhưng phía nguyên đơn không đồng ý cho bà Đ trả nợ dần. Xét thấy yêu cầu xin trả nợ dần của bà Đ là không thuộc thẩm quyền của Tòa án, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp thực tế bà Đ không có khả năng trả nợ một lần, thì các bên có thể thỏa thuận thời hạn và phương thức trả nợ tại cơ quan Thi hành án dân sự.

Từ những cơ sở và nhận định nêu trên, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N. Buộc Đoàn Thị Đ có trách nhiệm trả cho ông Trần Văn N số tiền là 23.171.00 đồng ( Hai mươi ba triệu một trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bà Đoàn Thị Đ phải chịu án phí sơ thẩm giá ngạch trên số tiền buộc phải trả cho ông N là 23.171.000₫ x 5% = làm tròn 1.159.000 đồng (Một triêu một trăm năm mươi chín nghìn đồng).

Hoàn trả cho ông Trần Văn N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 579.000 đồng (Năm trăm bảy mươi chín nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002648 ngày 06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Kiên Giang.

[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

3

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2, 4 Điều 91, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 khoản 1 Điều 273; Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Áp dụng Điều 166 và Điều 357 Bộ luật dân sự 2015;

- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn N.

Buộc Đoàn Thị Đ có trách nhiệm trả cho ông Trần Văn N số tiền là 23.171.000₫ ( Hai mươi ba triệu một trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

2. Về Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Bà Đoàn Thị Đ phải chịu án phí sơ thẩm giá ngạch trên số tiền buộc phải trả cho ông N là 23.171.000₫ x 5% = làm tròn 1.159.000 đồng (Một triêu một trăm năm mươi chín nghìn đồng).

Hoàn trả cho ông Trần Văn N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 579.000 đồng (Năm trăm bảy mươi chín nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002648 ngày 06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Kiên Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Quyền kháng cáo: Ông Trần Văn N, bà Đoàn Thị Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

4

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện T;
  • - THA dân sự huyện T;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ánh Nguyệt

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/DS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp đòi tài sản

  • Số bản án: 37/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Văn N yêu cầu Toà án buộc bà Đoàn Thị Đ trả cho ông số tiền là 23.171.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger