|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY THÀNH PHỐ HÀ NỘI Số: 37/2024/HSST Ngày 15/5/2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
+ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hùng Cường
+ Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Huy Dương; Ông Đinh Quang Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Đức - Kiểm sát viên.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại phòng xử án hình sự Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tiến hành mở phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số 38/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024; Đối với các bị cáo:
1./ Nguyễn Thanh H, sinh năm 1981. Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố F, phường T, thị xã S, t.p Hà Nội; Nơi cư trú hiện nay: Số A, phố C, phường S, thị xã S, t.p H2; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Hồng K (đã chết); Con bà: Vũ Thị T, sinh năm: 1954; Vợ: Hà Thị N, sinh năm 1986; Bị cáo có 02 con. Con lớn sinh năm: 2013, con nhỏ sinh năm: 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: - Bản án số 33/2022/HSST, ngày 07/3/2002, bị Toà án nhân dân tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) xử phạt 03 năm tù về tội: Cướp tài sản; - Bản án số 37/2006/HSST, ngày 30/5/2006, bị Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt 24 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản; - Bản án số 01/2008/HSST, ngày 14/10/2008, bị Toà án quân sự khu vực Quân khu thủ đô Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản; - Bản án số 93/2015/HSST, ngày 30/9/2015 Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội xử 12 tháng tù về tội : “ Trộm cắp tài sản”; Bản án số 01/2021/HSST, ngày 22/01/2021, bị Toà án nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ xử phạt 12 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản; Bị cáo đã chấp hành án xong các bản án về hình phạt và phần dân sự; Ngày 04/11/2021 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương.
- Quyết định số 120/QĐ-XPHC, ngày 16/7/2005, bị Công an phường Q xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý; - Quyết định số 077105/ QĐ – XPVPHC, ngày 09/01/2019, bị Công an phường V xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã S. ( Có mặt tại phiên tòa).
2./ Phùng Văn V, sinh năm 1998; Nơi ĐKHKTT và trú tại: Thôn T, xã T, thị xã S, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phùng Văn V1, sinh năm1960; Con bà: Dương Thị C, sinh năm 1962; Vợ, con: Chưa ; Tiền án, tiền sự: Không ; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã S. ( Có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
Chị Hà Thị N, sinh năm 1986.
Số A, phố C, phường S, thị xã S, t.p Hà Nội;
Ông Dương Văn N1, sinh năm: 1960.
Địa chỉ : Thôn V, xã T, thị xã S, t.p Hà Nội .
( Đều vắng mặt tại phiên tòa).
Người làm chứng:
Chị Nguyễn Trinh N2, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Số I, M, phường T, thị xã S, t.p Hà Nội .
Chị Phan Như Ý, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã S, t.p Hà Nội .
( Đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 09/01/2024, Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1981, số A, phố C, phường S, thị xã S đi xe máy hiệu Honda Airblade màu trắng đen, mang biển kiểm soát: 99C1-022.86 đến quán P ở thôn Đ, xã T, thị xã S ăn sáng và uống rượu. Lúc này tại quán có nhiều người và H đã nhờ một người nam giới không quen biết mua hộ 01 chỉ ma tuý Ke cùng 04 viên ma tuý Kẹo và bảo chiều mang đến quán phở cho H, người này đồng ý rồi bỏ đi.
H ngồi lại uống rượu, bia đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày thì Phùng Văn V, sinh năm: 1998, ở thôn T, xã T, thị xã S cũng đến quán ngồi ăn, uống cùng bàn với H. Trong lúc nói chuyện thì H rủ V góp tiền mua ma tuý K1, K2 để cùng nhau sử dụng. V đồng ý nhưng nói không có tiền thì H nói sẽ ứng tiền mua ma tuý rồi V trả lại tiền cho H sau. V đồng ý. Vì không có tiền mặt nên H bảo V điều khiển xe máy biển kiểm soát: 99C1-022.86 chở H đi đến nhà ông Dương Văn N1, sinh năm: 1960, ở thôn V, xã T, thị xã S để vay tiền. Gặp ông N1 thì H hỏi vay ông N1 5.000.000 đồng, một tuần sẽ trả, H để lại xe máy làm tin. Vì có quan hệ anh em nên ông N1 đồng ý đưa cho H vay 5.000.000 đồng. Sau đó, H cùng V đi ra bắt xe taxi trở về quán P. Trong lúc đợi xe taxi thì H gọi điện thoại bảo em gái là Nguyễn Trinh N2, sinh năm: 1984, ở số I, M, phường T, thị xã S đến quán P. Lúc này, N2 đang ở nhà chơi cùng với bạn là Phan Như Ý, sinh năm1985, ở T, xã T, thị xã S nên đồng ý và rủ Ý đi cùng. Nữ điều khiển xe máy chở Ý đến quán P nhưng không thấy H nên đứng đợi một lúc thì thấy có một chiếc xe taxi đi đến dừng trước cổng quán rồi H và V xuống xe. V đi đến bàn uống nước trong quán ngồi. H trả tiền xe hết khoảng hơn 100.000đ rồi đi đến chỗ N2 và Ý đang đứng thì H lấy tiền trong người ra đưa cho N2 nhờ N2 đi mua hộ ma tuý. Nữ không đồng ý nên đã ngồi lên xe máy bảo Ý chở về nhà thì H rút chìa khoá xe để không cho N2 và Ý về. Do vậy, N2 và Ý đã đi bộ ra khỏi quán thì H đi theo gọi N2 và Ý trở vào quán để hát nhưng N2 và Ý không đồng ý. Thấy vậy, H đi bộ quay lại đến gần cổng quán P thì H thấy người nam giới mà H nhờ mua ma tuý buổi sáng điều khiển xe máy chở một người đi đến chỗ H thì dừng lại. H hỏi người này có mua được ma túy hay không thì người này nói: “Đã mua được 02 gói ma túy Ke và 04 viên ma túy kẹo với giá hơn 4.000.000đ”. H lấy trong người ra hơn 4.000.000₫ (H không nhớ rõ cụ thể là bao nhiêu) đưa cho người nam giới. Sau khi nhận tiền người này đưa cho H cho 01 gói nilông bên trong chứa 04 viên ma tuý K1 và 02 gói nilông chứa ma tuý Ke rồi bỏ đi. H cầm ma tuý trong tay phải đi vào trong quán Hải B đến ngồi ghế bên trái cạnh V và đưa gói ma tuý cho V. V cầm gói ma tuý mở ra xem và ngửi mùi thấy đúng ma tuý nên đút vào túi quần trước bên phải của V đang mặc. Cùng lúc này lực lượng Công an xã T đến quán P kiểm tra hành chính phát hiện V đang tàng trữ trái phép chất ma túy trong người nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm:
- Thu của V: 01(một) gói ni lông kích thước 4x4,2cm, viền mép màu đỏ bên trong chứa 04 viên nén màu xanh có in hình chữ S nổi và 02 gói nilông màu đen chứa tinh thể màu trắng;
- Thu giữ của H: 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03S màu xanh đen, số IMEI: 357774831415129 (Κ), 359673481415124 (Khe 2) điện thoại cũ đã qua sử dụng và 670.000 đồng tiền Ngân hàng N3.
- Thu giữ của ông Dương Văn N1: 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu xanh bạc, biển kiểm soát: 99C1-022.86, số khung: 2709BY762171, số máy: JF27E0833373, không có gương chiếu hậu, xe cũ đã qua sử dụng;
Ngày 10/01/2024, Cơ quan CSĐT, Công an thị xã S đã ra Quyết định trưng cầu giám định chất ma tuý đối với số ma túy đã thu giữ. Tại bản Kết luận giám định số: 652/KL-KTHS ngày 18/01/2024, của Phòng K3, Công an thành phố H kết luận: “01 gói nilông bên trong có:
+ Tinh thể màu trắng bên trong 02 gói nilông màu đen đều là ma tuý loại Ketamine, tổng khối lượng 1,119gam.
+ 04 viên nén màu xanh có in hình chữ S nổi đều có ma tuý loại Methamphetamine, ma tuý loại MDMA và ma tuý loại Ketamine, tổng khối lượng 1,127gam./."
Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong dán kín của Phòng K3- Công an Thành phố H; - 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03S màu xanh đen, số IMEI: 357774831415129 (Κ), 359673481415124 (Khe 2) điện thoại cũ đã qua sử dụng và 670.000 đồng tiền Ngân hàng N3; - 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu xanh bạc, biển kiểm soát: 99C1-022.86, số khung: 2709BY762171, số máy: JF27E0833373, không có gương chiếu hậu, xe cũ đã qua sử dụng; Đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây bảo quản chờ xử lý theo quy định của pháp luật; Tại Cơ quan điều tra bị cáo Nguyễn Thanh H và Phùng Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 16/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh Hà và Phùng Văn V về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo Điểm i Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố cac bị cáo Nguyễn Thanh H và Phùng Văn V về tội danh, điều luật như cáo trạng đã nêu. Đề nghị HĐXX áp dụng Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 - BLHS;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H từ 27 đến 30 tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2024; Xử phạt bị cáo Phùng Văn V từ 18 đến 21 tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2024; Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về tang vật, vật chứng :
Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng KTHS – Công an t.p Hà Nội, bên ngoài có chữ ký họ tên của Giám định Viên: Nguyễn Hoàng H1; Đ/C Nguyễn Minh T1 CB Công an xã T cùng Phùng Văn V. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 16/4/2024.
Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Thanh H: 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03S màu xanh đen, số IMEI: 357774831415129 (Κ), 359673481415124 (Khe 2) điện thoại cũ đã qua sử dụng. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 16/4/2024.
Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Thanh H số tiền 670.000 đồng ( Sáu trăm bảy mươi nghìn đồng), tiền Ngân hàng N3. Theo giấy nộp vào tài khoản số 3949.0.1052740, tại KBNN thị xã S của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, lập ngày 17/4/2024.
Hoàn trả cho chị Hà Thị N : 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu xanh bạc, biển kiểm soát: 99C1-022.86, số khung: 2709BY762171, số máy: JF27E0833373, không có gương chiếu hậu, xe cũ đã qua sử dụng; Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 16/4/2024.
Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, Kiêm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thanh H và Phùng Văn V đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội đã nêu. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, Biên bản bắt quả tang, kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để xác định:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 09/01/2024, bị cáo Nguyễn Thanh H đi xe máy hiệu Honda Airblade màu trắng đen, mang biển kiểm soát: 99C1-022.86 đến quán P ở thôn Đ, xã T, thị xã S ăn sáng và uống rượu, bị cáo H đã nhờ một người nam giới không quen biết mua hộ 01 chỉ ma tuý Ke cùng 04 viên ma tuý Kẹo và bảo chiều mang đến quán phở cho H, người này đồng ý rồi bỏ đi; Bị cáo H ngồi lại uống rượu, bia đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày thì bị cáo Phùng Văn V cũng đến ăn bị cáo H rủ bị cáo V góp tiền mua ma tuý K1, K2 để cùng nhau sử dụng, bị cáo V đồng ý nhưng nói không có tiền thì bị cáo H nói sẽ ứng tiền mua ma tuý rồi V trả lại tiền cho H sau. V đồng ý. Vì không có tiền mặt nên bị cáo H bảo bị cáo V điều khiển xe máy biển kiểm soát: 99C1-022.86 chở H đi đến nhà ông Dương Văn N1, sinh năm: 1960, ở thôn V, xã T, thị xã S để vay tiền. Gặp ông N1 thì H hỏi vay ông N1 5.000.000 đồng, một tuần sẽ trả, H để lại xe máy làm tin. Vì có quan hệ anh em nên ông N1 đồng ý đưa cho H vay 5.000.000 đồng. Sau đó, H cùng V đi ra bắt xe taxi trở về quán P. Trong lúc đợi xe taxi thì H gọi điện thoại bảo em gái là Nguyễn Trinh N2, sinh năm: 1984, ở số I, M, phường T, thị xã S đến quán P. Lúc này, N2 đang ở nhà chơi cùng với bạn là Phan Như Ý, sinh năm1985, ở T, xã T, thị xã S nên đồng ý và rủ Ý đi cùng. Nữ điều khiển xe máy chở Ý đến quán P nhưng không thấy H nên đứng đợi một lúc thì thấy có một chiếc xe taxi đi đến dừng trước cổng quán rồi H và V xuống xe. V đi đến bàn uống nước trong quán ngồi. H trả tiền xe hết khoảng hơn 100.000đ rồi đi đến chỗ N2 và Ý đang đứng thì H lấy tiền trong người ra đưa cho N2 nhờ N2 đi mua hộ ma tuý. Nữ không đồng ý nên đã ngồi lên xe máy bảo Ý chở về nhà thì H rút chìa khoá xe để không cho N2 và Ý về. Do vậy, N2 và Ý đã đi bộ ra khỏi quán thì H đi theo gọi N2 và Ý trở vào quán để hát nhưng N2 và Ý không đồng ý. Thấy vậy, H đi bộ quay lại đến gần cổng quán P thì H thấy người nam giới mà H nhờ mua ma tuý buổi sáng điều khiển xe máy chở một người đi đến chỗ H thì dừng lại. H hỏi người này có mua được ma túy hay không thì người này nói: “Đã mua được 02 gói ma túy Ke và 04 viên ma túy kẹo với giá hơn 4.000.000đ”. H lấy trong người ra hơn 4.000.000đ (H không nhớ rõ cụ thể là bao nhiêu) đưa cho người nam giới. Sau khi nhận tiền người này đưa cho H cho 01 gói nilông bên trong chứa 04 viên ma tuý K1 và 02 gói nilông chứa ma tuý Ke rồi bỏ đi. H cầm ma tuý trong tay phải đi vào trong quán Hải B đến ngồi ghế bên trái cạnh V và đưa gói ma tuý cho V. V cầm gói ma tuý mở ra xem và ngửi mùi thấy đúng ma tuý nên đút vào túi quần trước bên phải của V đang mặc. Cùng lúc này lực lượng Công an xã T đến quán P kiểm tra hành chính phát hiện V đang tàng trữ trái phép chất ma túy trong người nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm:
- Thu của V: 01(một) gói ni lông kích thước 4x4,2cm, viền mép màu đỏ bên trong chứa 04 viên nén màu xanh có in hình chữ S nổi và 02 gói nilông màu đen chứa tinh thể màu trắng;
- Thu giữ của H: 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03S màu xanh đen, số IMEI: 357774831415129 (Κ), 359673481415124 (Khe 2) điện thoại cũ đã qua sử dụng và 670.000 đồng tiền Ngân hàng N3.
- Thu giữ của ông Dương Văn N1: 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu xanh bạc, biển kiểm soát: 99C1-022.86, số khung: 2709BY762171, số máy: JF27E0833373, không có gương chiếu hậu, xe cũ đã qua sử dụng;
Ngày 10/01/2024, Cơ quan CSĐT, Công an thị xã S đã ra Quyết định trưng cầu giám định chất ma tuý đối với số ma túy đã thu giữ. Tại bản Kết luận giám định số: 652/KL-KTHS ngày 18/01/2024, của Phòng K3, Công an thành phố H kết luận: “01 gói nilông bên trong có:
+ Tinh thể màu trắng bên trong 02 gói nilông màu đen đều là ma tuý loại Ketamine, tổng khối lượng 1,119gam.
+ 04 viên nén màu xanh có in hình chữ S nổi đều có ma tuý loại Methamphetamine, ma tuý loại MDMA và ma tuý loại Ketamine, tổng khối lượng 1,127gam./."
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thanh H và Phùng Văn V đã tàng trữ trái phép chất ma túy là 1,119 gam ma tuý loại Ketamine và 04 viên nén đều có ma tuý loại Methamphetamine, ma tuý loại MDMA và ma tuý loại Ketamine, tổng khối lượng là 1,127gam đã cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội đã truy tố bị cáo theo tội danh trên theo Điểm i Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo không những xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về việc quản lý chất ma túy mà còn là nguyên nhân phát sinh ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Ma túy là độc dược, gây tổn hại sức khỏe con người, suy kiệt giống nòi, suy kiệt kinh tế đối với người sử dụng.
Việc tàng trữ ma túy loại Methamphetamine, ma tuý loại MDMA và ma tuý loại Ketamine, để phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, do vậy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống với thời gian nhất định đối với các bị cáo như vậy mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đầy đủ, toàn diện, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo. Trong vụ án này có hai bị cáo cùng tham gia có tính đồng phạm, mang tính bột phát, phạm tội không có tổ chức, không có sự chuẩn bị công cụ phương tiện. Do vậy cần phải đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo để áp dụng hình phạt cho phù hợp. Bị cáo Nguyễn Thanh H và Phùng Văn V đều nghiện ma túy, khi thực hiện phạm tội các bị cáo đều có sự thống nhất cao cùng phạm tội. Nên vai trò của hai bị cáo là ngang nhau.
Về các tình tiết tăng nặng: Không có;
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Do vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51-BLHS năm 2015;
Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, do vậy: Áp dụng Điều 38- BLHS năm 2015; Buộc các bị cáo Nguyễn Thanh H và Phùng Văn V phải cách ly xã hội một thời gian nhất định thì có đủ điều kiện cải tạo và giáo dục các bị cáo cũng như công tác phòng ngừa tội phạm.
Ngoài hình phạt chính, Khoản 5 Điều 249 - BLHS, còn quy định hình phạt bổ sung đối với người phạm tội từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng. Xét thấy các bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn . Nên Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về nguồn gốc ma túy: Do bị cáo H không biết tên, địa chỉ cụ thể của người mua hộ ma túy cho mình nên không có cơ sở xác minh làm rõ để xử lý được. HĐXX không xét.
Quá trình điều tra xác định: 01 Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, màu xanh bạc, mang biển kiểm soát: 99C1-022.86 là của chị Hà Thị N, sinh năm1986 ( là vợ của bị cáo H) cho bị cáo Hà M để sử dụng. Do chị N không biết bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội nên không có căn cứ xử lý và chị N đề nghị được nhận lại chiếc xe máy trên. Nay HĐXX tuyên bố trả lại chiếc xe máy này cho chị Hà Thị N.
01 Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đen cùng 670.000 đồng ( Sáu trăm bảy mươi nghìn đồng) là tài sản và tiền của bị cáo H không liên quan đến vụ án. HĐXX tuyên bố trả lại cho bị cáo H .
Đối với chị Nguyễn Trinh N2 là người được bị cáo H nhờ mua hộ ma tuý nhưng chị N2 không mua mà bỏ đi nên Cơ quan điều tra không xử lý chị N2 là có căn cứ. HĐXX không xét.
Ông Dương Văn N1 là người đã cho bị H cầm cố xe máy để vay 5.000.000,đ (Năm triệu đồng), nhưng ông N1 không biết bị cáo H dùng tiền đó để mua ma túy nên không có cơ sở để xử lý. Ông N1 cũng không yêu cầu bị cáo H phải trả lại 5.000.000đ cho mình. Nên HĐXX không xét.
* Về vật chứng vụ án: Cần áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng KTHS – Công an t.p Hà Nội, bên ngoài có chữ ký họ tên của Giám định Viên: Nguyễn Hoàng H1; Đ/C Nguyễn Minh T1 CB Công an xã T cùng Phùng Văn V. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 16/4/2024.
Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Thanh H: 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03S màu xanh đen, số IMEI: 357774831415129 (Κ), 359673481415124 (Khe 2) điện thoại cũ đã qua sử dụng. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 16/4/2024.
Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Thanh H số tiền 670.000 đồng ( Sáu trăm bảy mươi nghìn đồng), tiền Ngân hàng N3. Theo giấy nộp vào tài khoản số 3949.0.1052740, tại KBNN thị xã S của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, lập ngày 17/4/2024.
Hoàn trả cho chị Hà Thị N: 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu xanh bạc, biển kiểm soát: 99C1-022.86, số khung: 2709BY762171, số máy: JF27E0833373, không có gương chiếu hậu, xe cũ đã qua sử dụng; Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 16/4/2024.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thanh H và Phùng Văn V phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
* Căn cứ Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 - BLHS năm 2015 - Sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo các bị cáo Nguyễn Thanh H và Phùng Văn V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2024. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Xử phạt bị cáo Phùng Văn V 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2024. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 329 – BLTTHS 2015 tiếp tục t'm giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án.
* Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng KTHS – Công an t.p Hà Nội, bên ngoài có chữ ký họ tên của Giám định Viên: Nguyễn Hoàng H1; Đ/C Nguyễn Minh T1 CB Công an xã T cùng Phùng Văn V. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 16/4/2024.
Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Thanh H: 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03S màu xanh đen, số IMEI: 357774831415129 (Κ), 359673481415124 (Khe 2) điện thoại cũ đã qua sử dụng. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 16/4/2024.
Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Thanh H số tiền 670.000 đồng ( Sáu trăm bảy mươi nghìn đồng), tiền Ngân hàng N3. Theo giấy nộp vào tài khoản số 3949.0.1052740, tại KBNN thị xã S của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, lập ngày 17/4/2024.
Hoàn trả cho chị Hà Thị N: 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu xanh bạc, biển kiểm soát: 99C1-022.86, số khung: 2709BY762171, số máy: JF27E0833373, không có gương chiếu hậu, xe cũ đã qua sử dụng; Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 16/4/2024.
* Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136- BLTTHS 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc các bị cáo Nguyễn Thanh H và Phùng Văn V, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Quyền kháng cáo: Án hình sự sơ thẩm xét xử công khai. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được kháng cáo phần quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt bản án hợp lệ.
“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“.
|
Nơi nhận
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lã Hùng Cường |
Bản án số 37/2024/HSST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 37/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo H và bị cáo V phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
