|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2024/HS-ST Ngày: 15/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Phạm Xuân Diễn.
Các Hội thẩm nhân dân :
Ông Bùi Văn Thắng ;
Bà Vũ Thị Thanh.
- Thư ký phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Phương Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên tham gia phiên tòa : Ông Hoàng Đức Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15/4/2024, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 21/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 26/2024/QĐXXST-HS, ngày 04/4/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, đối với các bị cáo :
-
Trần Văn K (giới tính: nam), sinh ngày 27/7/1982, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh;
Nơi cư trú: khu Đ, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: lớp 10/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Trần Văn B và bà Nguyễn Thị D (đã chết), bị cáo có vợ là Lăng Thị T, chưa có con;
Tiền án, tiền sự: không có;
Nhân thân: năm 2012 bị Công an phường M, thị xã Q xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích;
Bị cáo đầu thú ngày 04/01/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và T1 hoãn xuất cảnh, có mặt tại phiên tòa.
-
Trần Văn L (giới tính: nam), sinh ngày 18/7/1988, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh;
Nơi cư trú: khu Đ, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: lớp 9/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Trần Văn S (đã chết) và bà Vũ Thị Q; bị cáo có vợ là Nguyễn Ngọc N và có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2015;
Tiền án, tiền sự: không có;
Nhân thân: năm 2013 bị Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, về tội Đánh bạc, đã được xoá án tích.
Bị bắt quả tang ngày 31/12/2023, tạm giữ đến ngày 05/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú và Tạm hoãn xuất cảnh, có mặt tại phiên tòa
-
Nguyễn Tiến B1 (giới tính: nam), sinh ngày 23/11/1987, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh;
Nơi cư trú: khu Đ, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ văn hóa: lớp 12/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Nguyễn Như Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị B2; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thu H và có 01 sinh năm 2023;
Tiền án, tiền sự: không có;
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 31/12/2023, tạm giữ đến ngày 05/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú và T1 hoãn xuất cảnh, có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Tiến T2 (giới tính: nam), sinh ngày 05/7/1975, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh;
Nơi cư trú: khu C, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: lớp 9/12; Nghề nghiệp: Công nhân; con ông Nguyễn Hồng M và bà Nguyễn Thị S1. Bị cáo có vợ là Đinh Thị Thanh T3 (đã ly hôn) và có 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2007;
Tiền án, tiền sự: không có;
Bị cáo đầu thú ngày 03/01/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và T1 hoãn xuất cảnh, có mặt tại phiên tòa.
-
Trần Thị B3 (giới tính: nữ), sinh ngày 11/5/1982, tại huyện G, tỉnh Ninh Bình;
Nơi cư trú: khu Đ, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ văn hóa: lớp 6/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Trần Văn T4 (đã chết) và bà Trần Thị C1; bị cáo có chồng là Phạm Thanh T5 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2020;
Tiền án, tiền sự: không có;
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 31/12/2023, tạm giữ đến ngày 05/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú và T1 hoãn xuất cảnh, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 31/12/2023, Nguyễn Tiến B1, Trần Thị B3, Trần Văn K, Nguyễn Tiến T2 đến nhà Trần Văn L ở khu Đ, phường M, thị xã Q chơi. Ngồi uống nước một lúc thì K, T2, B1 cùng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh “lốc” được thua bằng tiền, do thiếu người chơi nên K rủ thêm B3 đánh bạc cùng. Do không có tiền nên B1 hỏi L vay tiền để đánh bạc, L đồng ý cho B1 vay 1.200.000 đồng. Sau đó B3, K, T2, B1 lấy 01 bộ bài tú lơ khơ (có 52 lá bài) ở nhà L rồi đánh bạc tại gian nhà dưới của nhà L.
Hình thức đánh bạc được quy định như sau: cả nhóm sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài, chia thành 04 phần (mỗi phần 10 quân bài), còn thừa 12 quân để ra ngoài, mỗi người chơi nhận 01 phần và người chia bài được đánh đầu tiên, người đánh tiếp theo lần lượt theo chiều kim đồng hồ. Người chơi sử dụng những quân bài đã chia đánh với nhau theo quy ước không tính chất chỉ tính độ lớn quân bài (quân lớn chặt quân bé), người nào đánh hết bài trước thì người đó thắng, những người còn lại bị thua và sẽ đếm những quân bài chưa đánh được (thường gọi là lá), mỗi lá tương ứng với số tiền 10.000 đồng phải trả cho người thắng; nếu người chơi không đánh được quân bài nào thì gọi bị “lủng” và phải trả cho người thắng 100.000 đồng; khi lên bài người chơi nào báo “lốc” (nghĩa là hạ luôn được cả bài) nếu không ai bắt được thì người báo “lốc” thắng và mỗi người thua phải trả cho người thắng 200.000 đồng, nếu có người chơi bắt được thì người báo “lốc” sẽ phải trả cho người bắt “lốc” 800.000 đồng. Sau đó người chơi thắng được chia ván mới và được đánh đầu tiên.
Tất cả đánh bạc đến 20 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an thị xã Q bắt quả tang, thu trên chiếu bạc số tiền 7.300.000 đồng, 52 lá bài tú lơ khơ, 01 chiếu nhựa, ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ trên người B3 2.300.000 đồng. Riêng Trần Văn K, Nguyễn Tiến T2 trong quá trình bắt quả tang đã bỏ chạy thoát, đến ngày 03/01 và 04/01/2024 T2, K đến Công an thị xã Q đầu thú.
Quá trình điều tra, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và thừa nhận số tiền dùng để đánh bạc như sau: Khái có 3.100.000 đồng, T2 có 3.000.000 đồng, B1 có 1.200.000 đồng, B3 có 2.300.000 đồng trong người mục đích để đánh bạc. Như vậy tổng số tiền các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Tiến T2, Nguyễn Tiến B1, Trần Thị B3, Trần Văn L dùng để đánh bạc là 9.600.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: số tiền 9.600.000 đồng Cơ quan điều tra chuyển gửi Kho bạc thị xã Q theo quy định. Các vật chứng thu giữ còn lại chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên bảo quản, chờ xử lý theo quy định.
Bản cáo trạng số 33/CT-VKSQY, ngày 20/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, đã truy tố các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Tiến T2, Nguyễn Tiến B1, Trần Thị B3, Trần Văn L về tội: “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa, các bị cáo : Trần Văn K, Nguyễn Tiến T2, Nguyễn Tiến B1, Trần Thị B3, Trần Văn L đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của VKSND thị xã Quảng Yên đã truy tố đối với các bị cáo.
Tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an thị xã Q lập hồi 20 giờ 40 phút ngày 31/12/2023 thể hiện: khoảng 20 giờ 30 phút ngày 31/12/2023 tại nhà Trần Văn L ở khu Đ, phường M, thị xã Q, Công an thị xã Q bắt quả tang Trần Văn L, Nguyễn Tiến B1, Trần Thị B3 và một số đối tượng khác đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi “lốc” được thua bằng tiền. Vật chứng thư giữ gồm: thu trên chiếu bạc số tiền 7.300.000 đồng, 52 lá bài tú lơ khơ, 01 chiếu nhựa, thu giữ trên người B3 2.300.000 đồng B3 dùng để đánh bạc.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND thị xã Quảng Yên giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng, sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 BLHS: xử phạt các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Tiến T2 mỗi bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, về tội Đánh bạc.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 BLHS: xử phạt các bị cáo Nguyễn Tiến B1, Trần Thị B3 mỗi bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, về tội Đánh bạc.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 BLHS: xử phạt bị cáo Trần Văn L từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, về tội Đánh bạc.
Giao các bị cáo cho UBND phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 9.600.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 52 lá bài tú lơ khơ, 01 chiếu nhựa.
Các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố và không tranh luận gì, và đều đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
-
Về hành vi quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên tham gia trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng được quy định trong bộ luật tố tụng hình sự và bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, HĐXX khẳng định các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
-
Về tội danh và căn cứ kết tội: tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố.
Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như sơ đồ, bản ảnh hiện trường, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản bắt người phạm tội quả tang...đã có đầy đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 31/12/2023, tại nhà của Trần Văn L thuộc khu Đ, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Trần Văn K, Nguyễn Tiến T2, Nguyễn Tiến B1, Trần Thị B3, Trần Văn L có hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi “lốc” được thua bằng tiền thì bị Công an thị xã Q phát hiện bắt quả tang, thu giữ số tiền 9.600.000 đồng dùng vào việc đánh bạc cùng các vật chứng.
Cáo trạng số 33/CT-VKSQY, ngày 20/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, đã truy tố các bị cáo là có căn cứ pháp luật.
-
Xét tính chất mức độ hành vi của các bị cáo ngày 31/12/2023 là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa văn minh và làm gia tăng tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an ở địa phương, do đó cần tuyên mức hình phạt tương ứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự : các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo: các bị cáo thực hiện tội phạm có tính chất đồng phạm giản đơn; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. các bị cáo K, T2, B1, B3 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS; hai bị cáo K, T2 sau khi phạm tội đã ra đầu thú, riêng bị cáo T2 được cấp trên tặng thưởng Giấy khen, bị cáo L có bố đẻ là người có công với cách mạng (tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới phía bắc) nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét: đối với bị cáo K có vai trò chính, rủ rê một số bị cáo tham gia đánh bạc, ngoài ra còn có nhân thân xấu; đối với bị cáo L ngoài việc là chủ gia đình để các bị cáo đánh bạc còn có nhân thân xấu bị xử phạt tù cho hưởng án treo cũng về hành vi đánh bạc, tuy không trực tiếp đánh bạc nhưng có hành vi giúp sức, cho bị cáo B1 mượn tiền để đánh bạc; đối với bị cáo B1 mặc dù không có tiền nhưng có hành vi tích cực tham gia từ đầu, mượn tiền của L để tham gia đánh bạc nên ba bị cáo K, L, B1 cần có mức hình phạt cao hơn hai bị cáo còn lại. Còn lại bị cáo B3 có vai trò hạn chế, bị rủ rê lôi kéo và bị cáo T2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần có hình phạt nhẹ hơn. HĐXX xét thấy các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ để răn đe, giáo dục, đáp ứng được yêu cầu, mục đích đấu tranh phòng chống tội phạm và cũng để các bị cáo thấy được sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật nhà nước ta.
Về hình phạt bổ sung: các bị cáo đều có thu nhập thấp và không ổn định, HĐXX thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
-
Về vật chứng: đối với số tiền 9.600.000 đồng là số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 52 lá bài tú lơ khơ, 01 chiếu nhựa cơ quan điều tra thu giữ được sử dụng làm công cụ phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên :
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố : các bị cáo : Trần Văn K, Trần Văn L, Nguyễn Tiến B1, Nguyễn Tiến T2, Trần Thị B3 phạm tội : “Đánh bạc”.
Căn cứ vào : khoản 1 Điều 321 ; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 ; Điều 17; Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn K và Nguyễn Tiến T2.
Căn cứ vào : khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn L.
Căn cứ vào : khoản 1 Điều 321 ; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tiến B1 và Trần Thị B3.
-
Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Trần Văn K 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Trần Văn L 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến B1 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T2 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Trần Thị B3 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Trần Văn K, Trần Văn L, Nguyễn Tiến B1, Nguyễn Tiến T2, Trần Thị B3 cho Ủy ban nhân dân phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Về biện pháp ngăn chặn: căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” số 29/2024/LCCT-HSST, ngày 25/3/2024 và “Quyết định tạm hoãn xuất cảnh” số 51/2024/QĐ-TA ngày 25/3/2024 mà Tòa án đã áp dụng đối với bị cáo Trần Văn K; hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” số 28/2024/LCCT-HSST, ngày 25/3/2024 và “Quyết định tạm hoãn xuất cảnh” số 50/2024/QĐ-TA ngày 25/3/2024 mà Tòa án đã áp dụng đối với bị cáo Trần Văn L; hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” số 31/2024/LCCT-HSST, ngày 25/3/2024 và “Quyết định tạm hoãn xuất cảnh” số 53/2024/QĐ-TA ngày 25/3/2024 mà Tòa án đã áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Tiến B1; hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” số 27/2024/LCCT-HSST, ngày 25/3/2024 và “Quyết định tạm hoãn xuất cảnh” số 49/2024/QĐ-TA ngày 25/3/2024 mà Tòa án đã áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Tiến T2; hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” số 30/2024/LCCT-HSST, ngày 25/3/2024 và “Quyết định tạm hoãn xuất cảnh” số 52/2024/QĐ-TA ngày 25/3/2024 mà Tòa án đã áp dụng đối với bị cáo Trần Thị B3;
-
Về vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 9.600.000đồng được giao nhận trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/3/2024 giữa Chi cục Thi Hành án dân sự thị xã Quảng Yên và Công an thị xã Q.
- Tịch thu tiêu hủy 52 (năm mươi hai) quân bài tú lơ khơ và 01 (một) chiếu nhựa có hoa văn được giao nhận trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/3/2024 giữa Chi cục Thi Hành án dân sự thị xã Quảng Yên và Công an thị xã Q.
-
Về án phí và quyền kháng cáo : áp dụng khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6; Điểm a khoản 1 điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14. Buộc các bị cáo Trần Văn K, Trần Văn L, Nguyễn Tiến B1, Nguyễn Tiến T2, Trần Thị B3, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Xuân Diễn |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về đánh bạc
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Khái cùng đồng phạm đánh bạc
