|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2024/HS-ST Ngày 14 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Huế và bà Sầm Thị Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lang Thanh Như – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong tham gia phiên toà: Ông Quang Văn Dù - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã Mường Nọc, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An. Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê D (tên gọi khác: Không), sinh ngày 10 tháng 02 năm 1989, tại thị xã N, tỉnh Thanh Hoá.
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: Nguyên lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Duy K; con bà: Bùi Thị L (Đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án: Có 4 tiền án; Ngày 25/6/2014 bị Toà án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xử phạt 12 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 09/01/2015; ngày 27/4/2015 bị Toà án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xử phạt 15 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 05/4/2016; ngày 21/9/2017 bị Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xử phạt 03 năm tù về tội “trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 22/02/2020; ngày 02/02/2021 bị Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 36 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 26/9/2023; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2011 bị Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc; năm 2016 bị Toà án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma tuý bắt buộc; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/3/2024. Có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Trịnh Viết P, sinh năm 1986; trú tại khối Đ, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/3/2024 Lê D đi vào thị trấn Kim Sơn, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An để chơi với bạn. Đến nơi bị cáo vào quán nước ven đường chờ bạn đến đón; tại đây bị cáo gặp một người tự giới thiệu tên là Thái; bị cáo mua một gói ma tuý với Thái, giá 2.500.000 đồng. Mua được ma tuý bị cáo ngồi chờ bạn đến đón tại quán nước thuộc khối Đông Sơn, thị trấn Kim Sơn huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An thì bị bắt quả tang. Thu 01 gói chất bột màu trắng được đựng trong bao thuốc là Thăng Long và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12 màu xanh.
Kết luận giám định số 325/KL- KTHS( Đ2-MT) ngày 15/3/2024 của phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lê D gửi tới giám định là ma túy; loại Heroine (Heroine), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Số chất bột màu trắng thu giữ của Lê D có khối lượng là 3,68 g (Ba phẩy sáu mươi tám gam).
Tại phiên tòa bị cáo Lê D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Cụ thể: Ngày 09/3/2024 tại khối Đông Sơn, thị trấn Kim Sơn, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An; Lê D đang cất dấu trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang. Thu 3,68 gam Heroine. Mục đích bị cáo cất dấu ma tuý là để sử dụng.
Cáo trạng số 38/CT-VKS- QP ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lê D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đối với người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo, do không xác minh được họ tên và địa chỉ cụ thể, nên không có đủ cơ sở để điều tra xử lý.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận và đề nghị áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; xử phạt: Bị cáo Lê D từ 06 đến 07 năm tù. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quế Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về nội dung vụ án: Mặc dù không được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép, nhưng ngày 09/3/2024, tại thị trấn Kim Sơn, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, bị cáo Lê D đang cất dấu trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang. Thu của bị cáo 3,68 gam Heroine. Bị cáo tàng trữ ma túy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Bị cáo có 4 tiền án chưa được xoá án tích, đây thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Do đó bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
- Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, mà còn làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, nòi giống của con người, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng; bị cáo có 4 tiền án và có nhân thân xấu. Vì vậy cần xét xử nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo khai báo thành khẩn; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong đề nghị xử phạt bị cáo Lê D từ 06 năm đến 07 năm tù là hợp lý.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lê D không có tài sản gì đáng giá. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Đối với 3,68 gam Heroine, cơ quan điều tra đã lấy đi giám định chất 0,5 gam; còn lại 3,18 gam, đây là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại di động không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo.
- Về án phí: Bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Phạt Lê D 06 (Sáu) năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 09/3/2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ một phong bì bên trong đựng 3,18 (Ba phẩy mười tám) gam Heroine, mảnh ni lông màu vàng, vỏ bao thuốc lá thăng long màu vàng, cùng toàn bộ vỏ bao niêm phong vật chứng ban đầu. Trả lại cho bị cáo Lê D 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12, màu xanh. Chi tiết vật chứng được ghi cụ thể trong biên bản giao nhận ngày 05/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong với Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
Căn cứ vào Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lê D có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Công Phong |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê D pham tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
