|
TAND TỈNH THÁI NGUYÊN TAND HUYỆN PHÚ BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2024/HSST. Ngày: 14/05/2024. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Quang Thái.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Viết Vĩnh – Ông Nguyễn Văn Hợi.
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Bích Ngọc- Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên toà:
Bà Lý Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 23/2024/TLST-HS ngày 15/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXX ngày 25/4/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên Nguyễn Văn H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 28/01/1983 tại huyện H, tỉnh Bắc Giang.
HKTT và nơi cư trú: Xóm N, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 06/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1958. Vợ: Đỗ Thị N, sinh năm 1982; có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2010. Bị cáo là con thứ 3 trong gia đình có 4 chị em; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 17/3/2009, Tòa án nhân dân huyện Phú Bình xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 15/HSST ngày 31/12/2009, H đã chấp hành xong hình phạt; Ngày 28/4/2020, Công an xã T, huyện P xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. H đã chấp hành việc nộp phạt theo biên lai số 0009932 ngày 29/6/2020; Ngày 03/9/2020, Tòa án nhân dân huyện Phú Bình có Quyết định số 24/2020/QĐ-TA về việc đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng. Ngày 09/9/2021, H đã chấp hành xong biện pháp cai nghiện bắt buộc. Tại bản án số 19/HSST ngày 16/4/2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Phú Bình xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 02/01/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa).
* Luật sư bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thúy H2: Trợ giúp viên Pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (Có mặt).
* Người chứng kiến:
- Anh Nguyễn Anh H3, sinh năm 1980 (Vắng mặt).
Trú tại: xóm Tân Yên, xã Tân Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
- Anh Ngọ Văn H4, sinh năm 1991 (Vắng mặt).
Trú tại: xóm N, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 02/01/2024, tổ công tác Công an xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm N, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên phát hiện Nguyễn Văn H, sinh năm 1983; trú tại xóm N, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình làm việc, H đã tự giác giao nộp từ trong túi quần bên phải đang mặc ra 02 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. Theo H khai nhận đó là ma túy Heroine của H mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang niêm phong vật chứng ký hiệu A. Sau đó bàn giao H cùng vật chứng đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P để điều tra theo thẩm quyền
Cùng ngày 02/01/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P phối hợp cùng phòng K công an tỉnh T, có sự tham gia của Viện kiểm sát huyện P tiến hành mở niêm phong, cân khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn H có tổng khối lượng là 0,326 gam, lấy toàn bộ 0,326 gam niêm phong vào bì thư ký (hiệu A1) gửi phòng K Công an tỉnh T để giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 167/KL-KTHS ngày 10/5/2024, của phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong bì thư niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine có khối lượng là 0,326 gam.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong dán kín ký hiệu A1, bên trong có 0,316 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Văn H khai nhận: Do bản thân là người nghiện chất ma tuý, khoảng 09 giờ 30 phút ngày 02/01/2024 H đã đi nhờ xe mô tô của Hoàng Mạnh D, sinh năm 1984; trú tại: Xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, đến xã Đ để tìm mua ma tuý nhưng H không nói cho D biết mục đích đi nhờ xe để mua ma tuý của mình. Khi đến nơi thì H gặp một người đàn ông lạ và hỏi mua của người này 02 gói ma túy với giá 450.000 đồng. Nhận được ma túy H cất vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi ra nhờ D trở đến khu vực xóm N, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì H xuống đi bộ, khi đang đi bộ được một đoạn thì bị lực lượng Công an xã T phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Bị cáo khai nhận việc bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, không mục đích mua bán kiếm lời.
Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKSPB ngày 12/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 24 đến 30 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong dán kín ký hiệu A1, bên trong có 0,316 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14, miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo thuộc hộ nghèo.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị tại phiên tòa: Bị cáo bị Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự, do vậy đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS xem xét cho bị cáo được hưởng mức án 24 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ nghèo nên đề nghị HĐXX miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau
[1]. Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cơ quan điều tra Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản sự việc, kết luận giám định và lời khai của những người tham gia tố tụng khác. Như vậy có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 02/01/2024, tại khu vực xóm N, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi tàng trữ 0,326 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Hội đồng xét xử kết luận Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Cụ thể nội dung Điều 249 BLHS quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...
c) Heroine, ....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam....”
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo biết việc bị cáo tàng trữ tài phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện với lỗi cố ý.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng: Bị cáo Nguyễn Văn H được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là Người phạm tội thành khẩn khai báo, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân của bị cáo: Ngày 17/3/2009, Tòa án nhân dân huyện Phú Bình xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 15/HSST ngày 31/12/2009, H đã chấp hành xong hình phạt; Ngày 28/4/2020, Công an xã T, huyện P xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, H đã chấp hành việc nộp phạt theo biên lai số 0009932 ngày 29/6/2020; Ngày 03/9/2020, Tòa án nhân dân huyện Phú Bình có Quyết định số 24/2020/QĐ-TA về việc đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng. Ngày 09/9/2021, H đã chấp hành xong biện pháp cai nghiện bắt buộc. Tại bản án HSST số 19 ngày 16/4/2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Phú Bình xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Nên khi lượng hình HĐXX cần phải có mức án phù hợp với tội phạm mà bị cáo đã vi phạm.
[4]. Về hình phạt: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo xuất thân từ thành phần lao động nhưng không tích cực học tập, lao động sản xuất trái lại còn mắc nghiện ma túy nên đã lao vào con đường phạm tội. Bị cáo đã từng vi phạm pháp luật nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Hội đồng xét xử cần phải có một mức án tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có thể cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, cũng như để răn đe, phòng ngừa chung.
Đối với bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HSST ngày 16/4/2024, của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình xét xử đối với bị cáo, tính đến ngày xét xử 14/5/2024, bản án trên chưa có hiệu lực pháp luật, do vậy HĐXX không áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt chung của hai bản án. Việc tổng hợp hình phạt được thực hiện theo khoản 3 Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy mức án đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú đề nghị khi luận tội là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận
[5]. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong dán kín ký hiệu A1, bên trong có 0,316 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1.
[7]. Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí HSST cho bị cáo vì thuộc hộ nghèo.
[8]. Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng Hoàng Mạnh D theo H khai khi đi nhờ xe của D, H không nói cho D biết H đi mua ma tuý, cơ quan Cảnh sát điều tra đã triệu tập đối với D nhưng hiện tại D vắng mặt tại địa phương đi đâu làm gì không rõ. Do đó cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P sẽ tiếp tục xác minh khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Về nguồn gốc số ma túy (Heroine): H khai mua được của một người đàn ông không quen biết ở khu vực xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Bị cáo không biết người đàn ông này tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu do đó cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 329 của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử phạt: Nguyễn Văn H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 02/01/2024.
- Về bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Ra quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn H với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
5. Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu A1, bên ngoài bì thư có ghi: H5 lại 0,316 gam mẫu sau giám định và vỏ bao mẫu gói A1 vụ Nguyễn Văn H, SN 1983 phạm tội về ma túy.
- (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2024 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình)
6. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo Nguyễn Văn H.
7. Về quyền kháng cáo: Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quang Thái |
Bản án số 37/2024/HSST. ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 37/2024/HSST.
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
