Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ LƯƠNG

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày: 12/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Lý.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Quốc Minh

2. Ông Nguyễn Ngọc Ngư

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Miền - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 24/2024/HSST ngày 16 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST- HS, ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thành L, sinh năm 1979. Tên gọi khác: Không.

Nơi cư trú: Tổ 2, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1950 và bà Bùi Thị X, sinh năm 1955 .Gia đình bị cáo có 02 (hai) anh chị em, bị cáo là con thứ nhất.Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1979 và 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 06/12/2016 Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn xử phạt VPHC về hành vi “Xâm hại sức khoẻ của người khác”, số tiền 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2024 đến ngày 10/5/2024 Hiện đang tại ngoại tại địa phương.

(Có mặt tại phiên tòa).

Người chứng kiến: Anh Chu Văn T1, sinh năm 1980, địa chỉ: Xóm L, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 40 phút ngày 27/02/2024 tổ công tác Công an xã Y làm nhiệm vụ tại khu vực xóm L, xã Y, huyện P, T Nguyễn Thành L có biểu hiện liên quan đến ma túy nên đã tiến hành kiểm tra. Tại đây, L đã tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 01 gói chất bột màu trắng và 01 viên nén màu hồng, L khai là ma túy loại heroine và ma túy tổng hợp, vừa mua để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thành L thu giữ niêm phong số ma túy nêu trên của L theo quy định (ký hiệu bì niêm phong M) đồng thời chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan CSĐT công an huyện P để điều tra giải quyết theo thẩm quyền.

Hồi 23 giờ 35 phút cùng ngày tại phòng K Công an tỉnh T, các thành phần theo quy định đã tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng và lấy gửi mẫu giám định đối với số ma túy thu giữ của Nguyễn Thành L trong bì ký hiệu M: Gói chất bột màu trắng hồng có khối lượng 0,175 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định (ký hiệu bì A1); 01 viên nén màu hồng có khối lượng là 0,107 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định (ký hiệu bì A2).

Tại kết luận giám định số: 405/KL-KTHS ngày 06/03/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong kí hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng gửi giám định là: 0,175 gam; 01 (một) viên nén màu hồng trong bì niêm phong kí hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng gửi giám định là: 0,107 gam.

Quá trình điều tra làm rõ như sau: Nguyễn Thành L là người nghiện ma túy, khoảng 16 giờ ngày 27/02/2024, L một mình từ nhà đi nhờ xe ôm của một người đi đường không quen biết đến khu vực xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để mua loại heroine và ma túy tổng hợp về sử dụng. Tại đây, L gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01(một) gói giấy màu trắng bên trong có chất bột mầu trắng hồng là ma tuý loại heroine và 01 (một) viên nén màu hồng là ma túy tổng hợp dạng hồng phiến với số giá 250.000đ. L cầm gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi đi nhờ xe của người đi đường không quen biết đến khu vực thuộc xóm L, xã Y, huyện P tìm nơi sử dụng ma túy. Khi vừa xuống xe, đi tìm nơi sử dụng ma túy thì bị công an xã Y kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ số ma túy L chưa sử dụng.

Tại Cơ quan CSĐT Nguyễn Thành L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định chất ma túy, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

2

Vật chứng vụ án: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,165 gam mẫu A1 và vỏ bao gói mẫu A1 hoàn trả sau giám định; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bao gói mẫu A2 hoàn trả sau giám định; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A3, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu M và vỏ giấy gói thu giữ ban đầu.

Bản cáo trạng số 25/CT-VKSPL ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Vị Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L từ 18 – 24 tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2024 đến ngày 10/5/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,165 gam mẫu A1 và vỏ bao gói mẫu A1 hoàn trả sau giám định; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bao gói mẫu A2 hoàn trả sau giám định; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A3, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu M và vỏ giấy gói thu giữ ban đầu.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận gì. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Về tố tụng:

    - Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

3

  1. - Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên toà vắng mặt người chứng kiến, bị cáo không có ý kiến về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đề nghị xét xử vắng mặt người chứng kiến. Việc Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

  2. [2]. Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố và phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, biên bản bắt quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

    Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Hồi 16 giờ 40 phút ngày 27/02/2024, tại xóm L, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Thành L có hành vi tàng trữ trái phép 0,175 gam ma túy loại heroine và 0,107 gam ma túy loại Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy L tàng trữ để sử dụng là 0,282 gam thì bị tổ công tác của công an xã Y, huyện P phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

    Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thành L đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

    Nội dung Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:

    “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    a)

    i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khhoản này.”

  3. [3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

    Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm hình sự khác, hành vi đó cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

    Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có bố được tặng thưởng huy chương chiến sỹ vẻ vang, do vậy bị

4

  1. cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS.

    Từ những căn cứ nêu trên, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc có một mức án tương xứng với nhân thân, tính chất mức độ tội phạm do bị cáo gây ra.

  2. [4]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử thấy việc bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lời bất chính, không có thu nhập ổn định, không có tài sản. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  3. [5]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

    - Đối với vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành, vật chứng không có giá trị gồm: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,165 gam mẫu A1 và vỏ bao gói mẫu A1 hoàn trả sau giám định; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bao gói mẫu A2 hoàn trả sau giám định; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A3, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu M và vỏ giấy gói thu giữ ban đầu cần tịch thu tiêu hủy.

  4. [6]. Về nguồn số ma túy thu giữ của Nguyễn Thành L, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo L khai mua của một người đàn ông lạ mặt không biết tên, tuổi ở khu vực xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên nên không có căn cứ để xác minh xử lý.
  5. [7]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội về tội danh, mức hình phạt, xử lý vật chứng vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
  6. [8]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước theo quy định pháp luật.
  7. [9]. Thông báo về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  1. Về hình phạt:

    Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2024 đến ngày 10/5/2024.

    Áp dụng Điều 123 Bộ luật tố tụng hình sự, cấm bị cáo đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn kể từ khi tuyên án cho đến khi đi chấp hành án phạt tù.

  2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên ngoài ghi: Hoàn trả 0,165 gam mẫu sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên ngoài ghi: Hoàn trả vỏ bao gói mẫu A2; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A3, bên ngoài ghi: Bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu là M và vỏ giấy gói.

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/5/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương).

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Thành L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp sung quỹ Nhà nước.

  4. Về quyền kháng cáo: Có mặt bị cáo (Nguyễn Thành L ), báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Phú Lương;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Phú Lương;
  • - CQTHAHS Công an huyện Phú Lương;
  • - CC THADS huyện Phú Lương;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, VP, THAHS./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Minh Lý

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger