Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA BỂ

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày 11/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Thế Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Anh Dũng

Bà Nguyễn Thị Hồng Vân.

Thư ký phiên toà: Bà Bào Kim Vân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Triệu Ngọc Huấn, ông Ma Thế T - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS, ngày 14 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Lý Văn L (tên gọi khác: Không), sinh ngày 19 tháng 5 năm 2000, tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nơi cư trú: Thôn K, xã Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Văn T1 và con bà Vy Thị G; Vợ: Dương Hoàng T2 (đã ly hôn); Con: Có 01 con sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 04/12/2019 bị Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội bằng hình thức phạt tiền là 750.000đ, đã thi hành xong. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/4/2024 cho đến ngày 04/5/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện được tại ngoại tại địa phương có mặt tại phiên tòa.

* Những người chứng kiến:

  1. Ông Ma Ngọc T3 - sinh năm 1963. Trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
  2. Anh Nông Phan T4 - sinh năm 1981. Trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 26/4/2024 Lý Văn L đi xe ô tô khách từ nhà ở thôn K, xã Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn đến thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. khi đến cổng Trung tâm y tế huyện B thuộc tiểu khu B, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn Lý Văn L xuống xe thì nhìn thấy một người đàn ông không quen biết giống người nghiện ma túy nên vào hỏi mua ma túy, người đàn ông bảo “Không có nhưng có thể đi mua hộ được”, Lý Văn L đưa cho 150.000₫ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) người đàn ông đi khoảng 20 phút rồi quay lại đưa cho Luật 01 gói ma túy, loại Heroine. Mua được ma túy Lý Văn L cất vào túi quần và đi bộ về đến thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn thì bị tổ công tác của Công an xã Đ, huyện B phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ gói ma túy dạng cục, bột màu trắng và niêm phong vào trong phong bì ký hiệu A1, ngoài ra còn tạm giữ của Lý Văn L 01 xi lanh, 01 quần. Xác định vụ việc vượt quá thẩm quyền, Công an xã Đ đã chuyển cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B sau khi tiếp nhận, đã tiến hành khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở và các công trình phụ cận có liên quan của Lý Văn L tại thôn K, xã Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ thêm đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến hành vi vi phạm của Lý Văn L.

Tiến hành mở niêm phong phong bì ký hiệu A1 để cân xác định khối lợng 01 gói chứa chất dạng cục, bột màu trắng thu giữ của Lý Văn L được 0,17g (Không phẩy một bảy gam). Đã niêm phong túi ni lon, phong bì, giấy gói cũ vào phong bì ký hiệu B2 và niêm phong 0,17 gam chất dạng cục, bột màu trắng vào phong bì ký hiệu B1 để trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định.

Kết luận giám định số 146/KL-KTHS ngày 03/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine; Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 có khối lượng là 0,17g (Không phẩy một bảy gam). Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại là 0,13 g (Không phẩy một ba gam) cùng phong bì, bao gói cũ được niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T90 và hoàn trả lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện B quản lý theo quy định.

Quá trình điều tra bị cáo Lý Văn L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, do là nghiện ma túy nên Lý Văn L đã mua ma túy về để bản thân sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị công an phát hiện, thu giữ.

Tại bản cáo trạng số: 36/CT-VKSBB ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo Lý Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều luật có nội dung như sau:

2

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) ....

c) Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.....

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Lý Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50/BLHS.
  • + Xử phạt bị cáo Lý Văn L từ 12 - 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt, được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 26/4/2024 đến ngày 04/5/2024.
  • + Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng đặc biệt khó khăn và không có công việc ổn định, không có thu nhập, không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung.
  • - Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu T90 bên trong phong bì có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định, giấy gói, phong bì niêm phong cũ vụ Lý Văn L. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 phong bì niêm phong ký hiệu B2, bên trong có chứa ni lon, giấy gói, phong bì niêm phong cũ vụ Lý Văn L. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có chứa 01 xi lanh chưa qua sử dụng của Lý Văn L, tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 quần soóc bò màu đen xám, tình trạng cũ đã qua sử dụng;
  • - Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập, bị cáo có đơn xin miễn án phí, căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

3

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa những người chứng kiến đều vắng mặt. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra họ đã có lời khai đầy đủ về việc họ chứng kiến sự việc. Việc vắng mặt họ không ảnh hưởng đến việc xét xử của Tòa án. Do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[3] Theo các biên bản lời khai của bị cáo, người chứng kiến có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa: Khoảng 09 giờ ngày 26/4/2024 Lý Văn L đi xe ô tô khách từ nhà ở thôn K, xã Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn đến thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. khi đến cổng Trung tâm y tế huyện B thuộc tiểu khu B, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Lý Văn L xuống xe thì nhìn thấy một người đàn ông không quen biết giống người nghiện ma túy nên vào hỏi mua ma túy, người đàn ông bảo “Không có nhưng có thể đi mua hộ được”, Lý Văn L đưa cho 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) người đàn ông đi khoảng 20 phút rồi quay lại đưa cho Luật 01 gói ma túy, loại Heroine. Đến khoảng 12 giờ 30 phút sau khi mua được ma túy Lý Văn L cất vào túi quần và đi bộ về đến thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn thì bị tổ công tác của Công an xã Đ, huyện B phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ gói ma túy dạng cục, bột màu trắng có khối lượng 0,17 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã cấu thành tình tiết định khung “Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam .....” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, bị cáo Lý Văn L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[4] Xét tính chất hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an ở địa phương, cần xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự, nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[5] Xét về nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 04/12/2019 bị Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội bằng hình thức phạt tiền là 750.000đ; Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, cho nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ đó là "Người phạm tội

4

thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51/BLHS. Do tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải có thời gian cải tạo đối với bị cáo, mới giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[6] Về xử lý vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra vụ án, cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện B có thu giữ 01 phong bì niêm phong ký hiệu T90 bên trong phong bì có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định, giấy gói, phong bì niêm phong cũ vụ Lý Văn L. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 phong bì niêm phong ký hiệu B2, bên trong có chứa ni lon, giấy gói, phong bì niêm phong cũ vụ Lý Văn L. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có chứa 01 xi lanh chưa qua sử dụng của Lý Văn L, tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 quần soóc bò màu đen xám, tình trạng cũ đã qua sử dụng.

Hội đồng xét xử xét thấy, đối với 01 phong bì niêm phong ký hiệu T90 bên trong phong bì có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định, giấy gói, phong bì niêm phong cũ vụ Lý Văn L. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 phong bì niêm phong ký hiệu B2, bên trong có chứa ni lon, giấy gói, phong bì niêm phong cũ vụ Lý Văn L. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có chứa 01 xi lanh chưa qua sử dụng của Lý Văn L, tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 quần soóc bò màu đen xám, tình trạng cũ đã qua sử dụng. Tất cả các loại trên không có giá trị cần tịch thu để tiêu hủy

[7] Về hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 điều 249/BLHS đó là “Phạt tiền”, xét thấy tại biên bản xác minh có trong hồ sơ vụ án thể hiện bản thân bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm và không có thu nhập ổn định, cho nên miễn hình phạt bổ sung là “Phạt tiền” đối với bị cáo.

[8] Về nguồn gốc số ma túy trên, theo lời khai của bị cáo về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do bị cáo nhờ một người đàn ông đi mua hộ nhưng bị cáo không biết rõ lai lịch của người này và không biết người đàn ông mua với ai nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[9] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập, bị cáo có đơn xin miễn án phí, căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí Tòa án: Hội đồng xét xử miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  • * Tuyên bố bị cáo Lý Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • * Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38/BLHS.

5

  • - Xử phạt bị cáo Lý Văn L: 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt, được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 26/4/2024 đến ngày 04/5/2024.
  • * Về vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS:
  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu T90 bên trong phong bì có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định, giấy gói, phong bì niêm phong cũ vụ Lý Văn L. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 phong bì niêm phong ký hiệu B2, bên trong có chứa ni lon, giấy gói, phong bì niêm phong cũ vụ Lý Văn L. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có chứa 01 xi lanh chưa qua sử dụng của Lý Văn L, tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 quần soóc bò màu đen xám, tình trạng cũ đã qua sử dụng.
  • (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện B với Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Bể ngày 12/8/2024 ).
  • - Về án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS; căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí Tòa án: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND huyện;
  • - Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; Văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thế Hùng

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lý Văn Luật tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger