Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2023/HS-ST

Ngày: 11-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đô;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Niên;

2. Ông Phan Quốc Tiến;

Thư ký phiên tòa: Bà Đào Kim Xoa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2023/HSST-QĐ ngày 17/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2023/HSST-QĐ ngày 28/7/2023, đối với:

Bị cáo: Ngô Văn T, sinh ngày 13/4/1989; Tên gọi khác: Ú; Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp D, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Ngô Văn B, sinh năm 1940 và bà Mai Thị H, sinh năm 1946; Gia đình bị cáo có 09 anh chị, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo là Luật sư Nguyễn Thanh T1 – Công ty L Chi nhánh Đ; Địa chỉ: số F, Quốc lộ C, khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

* Người bị hại: Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1989 (có mặt).

Địa chỉ: ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại là Luật sư Nguyễn Văn T3 – Văn phòng L1; Địa chỉ: số C, Quốc lộ C, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

* Người làm chứng:

  1. Nguyễn Thị Tuyết T4, sinh năm 1977 (có mặt);
  2. Triệu Văn T5, sinh năm 1979 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: ấp D, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Đặng Hữu B1, sinh năm 1987 (có mặt).

Địa chỉ: ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Nguyễn Khắc T6, sinh năm 1979 (có mặt).

Địa chỉ: ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 17/8/2022, Nguyễn Hữu T2 đến nhà anh chị ruột là Nguyễn Thị Tuyết T4Nguyễn Khắc T6 để nói chuyện về việc bị Ngô Văn TĐặng Hữu B1 chặn đường đánh vào tối ngày 16/8/2022.

Sau khi nghe xong, T2, T4T6 điều khiển xe mô tô đến nhà của T. Khi đến nơi chị T4 hỏi Thanh lý do lại chặn đường đánh T2 thì hai bên xảy ra cự cãi. Lúc này, T điện thoại cho bạn là Đặng Hữu B1 đến nhà chở đi uống nước. Khoảng 05 phút sau, B1 chạy đến nói với T4 chính mình là người đã đánh T vào ngày hôm trước; nghe xong T2B1 liền lao vào đánh nhau bằng tay. Thấy vậy, T dùng tay phải lấy con dao bấm bằng kim loại màu đen, dài 21,5 cm, (lưỡi dao dài 9,5cm, cán dao dài 12 cm, mũi nhọn) là hung khí nguy hiểm, đang cất giấu trong túi quần bên phải phía trước đâm về phía T2 dẫn đến thương tích, do T2 chảy nhiều máu nên T6 chở đi cấp cứu. Tức giận bị đánh nên B1 tìm được thanh sắt dài khoảng 02 mét cách hiện trường khoảng 500 mét quay lại tìm T2 trả thù nhưng gặp chị T4 nói T2 bị đâm đã đưa đi cấp cứu, nghe sự việc B1 ném bỏ thanh sắt và đi về nhà. Ngày 19/8/2022, T đến cơ quan Công an đầu thú.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 41/TTg ngày 05/01/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận thương tích của Nguyễn Hữu T2:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- 03 sẹo vết thương phần mềm vùng đường nách trước trái, hông phải, khớp bàn - ngón V mu bán tay phải, kích thước nhỏ. Mỗi sẹo: 01%.

2. Căn cứ bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành theo theo Thông tư số 22/2019/TT- BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Hữu T2 do thương tích gây nên hiện tại là 03% (Ba phần trăm). Tại thời điểm giám định. Theo nguyên tắc cộng lùi tại thông tư (khi có từ hai tỷ lệ tổn thương trở lên).

3. Các kết luận khác:

- Các tổn thương trên do vật sắt nhọn gây ra.

- Chiều hướng hình thành tổn thương từ ngoài vào trong.

Cơ quan điều tra tạm giữ vật chứng có liên quan: con dao bấm bằng kim loại màu đen, dài 21,5 cm, lưỡi dao dài 9,5cm, cán dao dài 12 cm, mũi nhọn.

Quá trình điều tra, Nguyễn Hữu T2 không yêu cầu T phải bồi thường chi phí điều trị thương tích, tiền tổn thất tinh thần và các chi phí hợp lý khác. Tuy nhiên, yêu cầu xử lý hình sự đối với T theo đúng quy định pháp luật.

Tại Cáo trạng số 20/CT-VKSHCL ngày 26/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Cố ý gây thương tích”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Ngô Văn T với mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt vấn đề xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh: Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bấm bằng kim loại, màu đen dài 21,5cm (lưỡi dao dài 9,5cm; cán dài 12 cm mũi nhọn) là công cụ phạm tội.

Tại phiên tòa, người bào chữa của bị cáo T trình bày: Hành vi của bị cáo Ngô Văn T bị truy tố về tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng. Tuy nhiên, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi vụ án xảy ra, bị cáo T đã đến Cơ quan có thẩm quyền đầu thú; nhiều lần thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại dù không yêu cầu; bị cáo không có tiền án, tiền sự có nhân thân tốt; bị cáo là lao động chính trong gia đình, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn được xác nhận của địa phương. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Với những tình tiết giảm nhẹ vừa nêu, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo hoặc áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại trình bày: Hành vi của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích được quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là phù hợp. Tuy nhiên, giữa bị cáo T và bị hại T2 không có mâu thuẫn gì nhưng đã dùng dao đâm gây thương tích. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo tình tiết côn đồ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Về trách nhiệm dân sự: Người bào chữa cho rằng có hòa giải thỏa thuận bồi thường thiệt hại nhưng buổi làm việc theo biên bản tại bút lục số 87 không phải là buổi hòa giải, do không tuân thủ thành phần tiến hành. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại không yêu cầu bồi thường, nếu có phát sinh sẽ yêu cầu giải quyết trong vụ kiện dân sự khác.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận, đối đáp gì. Bị cáo nói lời sau cùng là rất ăn năn và hối hận về hành vi của mình xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Ngô Văn T đã thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 20/CT-VKSHCL ngày 26/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo. Xuất phát từ mâu thuẫn từ trước nên Ngô Văn T dùng dao bấm bằng kim loại màu đen dài 21,5cm là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Nguyễn Hữu T2 với tỉ lệ thương tật 03% vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 17/8/2022 tại ấp D, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Ngô Văn T đã vi phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Xét hành vi của bị cáo Ngô Văn T, khi thực hiện tội phạm, là người đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Tại phiên tòa, bị cáo còn khai rằng biết dao là hung khí nguy hiểm khi đâm, chém có thể dẫn đến thương tích cho người khác hoặc dẫn đến chết người. Khi xảy ra mâu thuẫn, lẽ ra bị cáo phải biết kiềm chế bản thân để tìm cách giải quyết mâu thuẫn một cách đúng đắn, nhưng bị cáo đã không làm như thế mà lại giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực. Bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành. Tuy nhiên, bị cáo T chỉ đâm vào người T2 nhằm mục đích gây thương tích, không nhằm mục đích tước mạng sống của bị hại nên không phải là hành vi giết người.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người bị hại một cách trái pháp luật, đã gây xôn xao dư luận, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Xét thấy, cần phải áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian học tập cải tạo, trở thành người tốt, có ích cho gia đình và cho xã hội sau này, đồng thời cũng nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt; sau khi vụ án xảy ra đã chủ động đầu thú; gia đình có kinh tế khó khăn được xác nhận của địa phương. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên không đặt vấn đề xem xét. Nếu có phát sinh sẽ xem xét giải quyết trong vụ kiện dân sự khác.

[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự cần:

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bấm bằng kim loại màu đen dài 21,5cm (lưỡi dài 9,5cm can dài 12 cm) là công cụ phạm tội.

(Hiện các vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện C đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/6/2023).

[10] Về án phí: Căn cứ quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 21; khoản 1 Điều 23; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Ngô Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm .

[11] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Cáo trạng số 20/CT-VKSHCL ngày 26/5/2022 và bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt đối với bị cáo cũng như giải quyết xử lý vật chứng vụ án là có căn cứ pháp luật nên chấp nhận.

[12] Đối với người bào chữa của bị cáo T, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo hoặc áp dụng Điều 54 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: Với hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương nên cần áp dụng hình phạt cần đủ nghiêm khắc để bị cáo có thời gian học tập cải tạo, trở thành người tốt, có ích cho gia đình và cho xã hội sau này, đồng thời cũng nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[13] Đối với người bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại đề nghị áp dụng tình tiết tính chất côn đồ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử nhận định: Xuất phát mâu thuẫn từ trước, việc bị hại đến nhà bị cáo có lời nói qua lại và sự xô xát giữa T2B1 nên T có hành vi gây thương tích, không có tính chất côn đồ. Do đó, người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là chưa phù hợp.

[14] Riêng Đặng Hữu B1 đến rước T đi uống nước, không phải đến để giúp sức gây thương tích cho T2. Mặt khác, do tức giận việc T2 đánh nên B1 tìm thanh sắt dài 02m để đánh lại nhưng không gặp. Việc B1 tìm thanh sắt là sau khi bị cáo T gây thương tích cho T2. Do đó, không đủ căn cứ xác định B1 là đồng phạm và xử lý hình sự theo quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ Luật hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Điều khoản luật áp dụng và mức hình phạt:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không giải quyết.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao bấm bằng kim loại màu đen, có chiều dài 21,5cm, lưỡi dao dài 9,5cm, cán dao dài 12 cm, mũi nhọn đã qua sử dụng được niêm phong trong bì thư màu trắng dán kín có đóng dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, ghi ngày 22/9/2022 có chữ ký ghi họ tên của Ngô Văn T, Võ Thị M.

(Hiện các vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện C đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/6/2023).

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo Ngô Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Cao Lãnh;
  • - Cơ quan CSĐT CAHCL;
  • - Cơ quan THAHS&HTTP CAHCL;
  • - THADS huyện Cao Lãnh;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VPTA & hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Đô

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2023/HS-ST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 37/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger