Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/DS-ST

Ngày 11/7/2024

V/v: “tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Quốc Đạt, ông Trần Thành Đô

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Tĩnh - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

Đại diện Viện kiểm sát huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 36/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2024 về việc “tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QÐST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2024/QÐST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa:

* Nguyên đơn: Ông Hoàng Thanh H, sinh năm 1942 (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: thôn A, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang

* Bị đơn:

  1. Anh Vũ Văn C, sinh năm 1979 (vắng mặt)
  2. Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn A, N, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1945 (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: thôn A, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo nguyên đơn là ông Hoàng Thanh H trình bày: Vào cuối tháng 9/2015 khi vợ chồng anh C làm mái nhà tôn cho gia đình ông; vợ chồng anh C, chị P có đặt vấn đề vay số tiền 30.000.000đ để về làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Vợ chồng anh C thỏa thuận khi nào ông cần thì báo trước cho vợ chồng anh C 10 ngày. Do vợ chồng anh C là người cùng thôn nên ông tin tưởng cho vay số tiền trên.

Ngày 30/9/2015 hai bên có viết giấy vay tiền thỏa thuẫn lãi suất là 01%/ tháng; thời gian vay không ấn định thời hạn, khi cần thì báo trước 10 ngày; vợ chồng anh C, chị P trực tiếp ký xác nhận; ông đã giao cho anh C, chị P đủ số tiền vay 30.000.000đ. Nguồn gốc số tiền cho anh C, chị P vay là tiền tích cóp của cả vợ chồng ông. Sau khi vay anh C, chị P có trả tiền lãi cho ông theo thỏa thuận đến ngày 29/6/2018; kể từ đó đến nay anh C, chị P không trả gốc và lãi hàng tháng. Mặc dù ông đã đòi nhiều lần nhưng anh C, chị P đều từ chối gặp mặt, từ chối thanh toán khoản tiền đã vay.

Nay ông khởi kiện đề nghị Tòa án buộc vợ chồng anh C, chị P phải thanh toán trả vợ chồng ông số tiền gốc và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận 01%/ tháng kể từ ngày 29/6/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm (tạm tính đến ngày 29/10/2023 là 19.200.000₫)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị L trình bày: Bà là vợ của ông Hoàng Thanh H; bà xác nhận toàn bộ lời trình bày của chồng bà là hoàn toàn đúng sự thật và cũng là nội dung, nguyện vọng, yêu cầu của bà; bà không có gì bổ sung thêm. Đề nghị Tòa án xét xử vụ án đúng quy định để đảm bảo quyền lợi cho vợ chồng bà.

Bị đơn là anh Vũ Văn C, chị Nguyễn Thị P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng anh C, chị P không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Thanh H và vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng do ông H, bà L vắng mặt và có đơn xin vắng mặt; anh C, chị P đều vắng mặt mà không có lý do nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Hoàng Thanh H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị L vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn là anh Vũ Văn C, chị Nguyễn Thị P vắng mặt lần thứ hai mà không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật và trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn là anh C, chị P không thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định của pháp luật.

* Về nội dung vụ án:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Thanh H.
  2. Buộc vợ chồng anh Vũ Văn C, chị Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán trả cho vợ chồng ông Hoàng Thanh H, bà Phạm Thị L số tiền nợ gốc là 30.000.000 đồng; số tiền nợ lãi là 21.720.000đ; tổng cộng: 51.720.000đ (Năm mươi mốt triệu bẩy trăm hai mươi nghìn đồng).

2. Về án phí: Anh Vũ Văn C, chị Nguyễn Thị P phải chịu toàn bộ tiền án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa sau khi tiến hành nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang đã thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự pháp luật đã quy định. Tại phiên tòa nguyên đơn là ông Hoàng Thanh H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị L vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Vũ Văn C, chị Nguyễn Thị P vắng mặt lần thứ hai mà không có lý do. Vì vậy HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ vay tiền giữa ông Hoàng Thanh H và vợ chồng anh Vũ Văn C, chị Nguyễn Thị P đều có nơi cư trú tại huyện L, tỉnh Bắc Giang là quan hệ dân sự giữa cá nhân với cá nhân; các bên đã không tự giải quyết được tranh chấp phát sinh, nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện theo thủ tục tại Tòa án. Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật và thẩm quyền được quy định tại các Điều 26; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về quyền khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và quan hệ pháp luật tranh chấp thì thấy:

Vào ngày 30/9/2015, giữa ông Hoàng Thanh H và vợ chồng anh Vũ Văn C, chị Nguyễn Thị P có ký kết hợp đồng vay tài sản là “Giấy vay tiền” với số tiền vay gốc là 30.000.000đ; thời hạn vay: không thời hạn, khi nào cần thì báo trước 10 ngày; lãi suất thỏa thuận 01%/ tháng. Tuy nhiên khi cần tiền mặc dù ông H đã đòi nhiều lần nhưng anh C, chị P không thanh toán trả. Vì vậy, giữa ông H và vợ chồng anh C, chị P đã phát sinh tranh chấp. Ngày 15/02/2024 ông H nộp đơn khởi kiện ra Tòa án, yêu cầu vợ chồng anh C, chị P phải có nghĩa vụ thanh toán trả số tiền gốc và lãi suất phát sinh. HĐXX xác định đây là "tranh chấp Hợp đồng vay tài sản", theo quy định tại Điều 184; Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015, thì ông H có quyền khởi kiện và thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

[4] Về nội dung tranh chấp:

1. Về số tiền vay gốc:

Căn cứ vào “Giấy vay tiền” do ông H cung cấp và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã xác định: Ngày 30/9/2015 ông Hoàng Thanh H có cho vợ chồng anh Vũ Văn C, chị Nguyễn Thị P vay số tiền gốc 30.000.000đ; lãi suất 01%/ tháng (tức 12%/ năm); thời hạn vay là không thời hạn; anh C, chị P có ký nhận tại mục “Bên vay”, ông H ký tại mục “Bên cho vay”. Như vậy, giữa ông H và vợ chồng anh C, chị P đã thiết lập quan hệ hợp đồng vay tài sản không kỳ hạn và có lãi theo quy định tại Điều 471, khoản 2 Điều 477 Bộ luật Dân sự năm 2005 với số tiền vay gốc là 30.000.000đ.

2. Về lãi suất:

Tại “Giấy vay tiền” ngày 30/9/2015 giữa ông H và vợ chồng anh C, chị P có thỏa thuận và ghi mức lãi suất là 01%/ tháng (tức 12%/ năm); đồng thời trong giấy vay tiền do ông H cung cấp có thể hiện việc anh C nhiều lần trả tiền lãi kể từ ngày vay cho đến ngày 29/6/2018. Như vậy, mức lãi suất thỏa thuận giữa ông H và vợ chồng anh C, chị P là phù hợp với mức lãi suất quy định tại Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005.

Tại đơn khởi kiện và lời khai tiếp theo ông Hoàng Thanh H yêu cầu vợ chồng anh Vũ Văn C, chị Nguyễn Thị P thanh toán trả số tiền nợ gốc 30.000.000đ và số tiền lãi theo mức lãi suất 01%/ tháng (tức 12%/ năm) kể từ ngày 29/6/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm. Vì vậy yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi số tiền nợ gốc, tiền lãi, mức lãi suất và thời hạn tính lãi đối với hợp đồng vay nêu trên là phù hợp với quy định của pháp luật tại các Điều 471; Điều 474; Điều 476 và Điều 477 Bộ luật dân sự năm 2005 nên cần được chấp nhận.

3. Về trách nhiệm thanh toán:

Tại giấy vay tiền ngày 30/9/2015 có ghi việc vay tiền là để làm vốn kinh doanh; đồng thời vợ chồng anh C, chị P đều có mặt nhận tiền vay và ký nhận tại mục “Bên vay” trong giấy vay tiền. Do vậy cần buộc vợ chồng anh Vũ Văn C, chị Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán trả cho vợ chồng ông Hoàng Thanh H, bà Phạm Thị L số tiền nợ gốc là 30.000.000₫ và số tiền lãi tính từ ngày 29/6/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm 11/7/2024 (là 06 năm 0 tháng 12 ngày) theo mức lãi suất 12%/ năm là (30.000.000₫ x 12% x 06 năm = 21.600.000₫) + (30.000.000₫ x 12%/360 x 12 ngày = 120.000đ) = 21.720.000₫;

Tổng cộng số tiền nợ gốc và tiền lãi là 51.720.000đ (Năm mươi mốt triệu bẩy trăm hai mươi nghìn đồng).

[5] Về án phí: Vợ chồng anh Vũ Văn C, chị Nguyễn Thị P phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Ông Hoàng Thanh H không phải chịu án phí.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 184; Điều 186; Điều 227; Điều 228; 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 471; Điều 474; Điều 476; Điều 477 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Thanh H.
  2. Buộc vợ chồng anh Vũ Văn C, chị Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán trả cho vợ chồng ông Hoàng Thanh H, bà Phạm Thị L số tiền nợ gốc là 30.000.000 đồng; số tiền nợ lãi là 21.720.000đ; tổng cộng: 51.720.000đ (Năm mươi mốt triệu bẩy trăm hai mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày 12/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất là 12%/ năm.

2. Về án phí: Ông Hoàng Thanh H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Vợ chồng anh Vũ Văn C, chị Nguyễn Thị P phải chịu số tiền 2.586.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lạng Giang;
  • - THADS huyện Lạng Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/DS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 37/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HIÊN - CÔNG PHƯỢNG VAY TÀI SẢN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger