Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUYÊN HÓA

TỈNH QUẢNG BÌNH

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày: 10 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Trọng Thủy và bà Bùi Thị Kim Nhung

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền, Thư ký Tòa án nhân dân huyện huyên Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Cao Mỹ Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2024/HSST ngày 26 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Tiến D (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01/7/1971, tại huyện T, tỉnh Quảng Bình.

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; trình độ văn hóa: Lớp 08/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Đức L (chết) và bà Nguyễn Thị X; vợ: Nguyễn Thị D1, con có 02 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 07/3/2024 cho đến nay, theo giấy triệu tập có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Lý H, sinh năm 1989 (chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Tất T, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

+ Anh Lê Trung H2, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn M, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 30 phút 17/01/2024, Trần Tiến D có giấy phép lái xe hợp lệ, điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, số loại Air Blade, biển kiểm soát 73D1- 213.52, chở phía sau anh Nguyễn Tất T cùng trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình lưu thông theo hướng thị trấn Đ đi thị xã B. Khi đi đến

K+ 640 Quốc lộ A thuộc địa phận thôn B, xã M, huyện T, tỉnh Quảng Bình, D điều khiển xe mô tô rẽ trái (theo hướng đi Đồng Lê - B) không đảm bảo an toàn nên đã xảy ra va chạm với xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Taurusr, biển kiểm soát 73V1-7075 do anh Nguyễn Lý H trú tại thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Bình, điều khiển chạy ngược chiều. Hậu quả: Anh Nguyễn Lý H chết trên đường đi cấp cứu, Trần Tiến D bị thương, hai xe mô tô liên quan bị hư hỏng.

Kết quả xác định trong hơi thở của Trần Tiến D có nồng độ cồn 1.093mg/1lít khí thở.

Tại kết quả khám nghiệm tử thi và bản kết luận giám định tử thi số: 123/KL- PY ngày 26/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q xác định nguyên nhân chết của Nguyễn Lý H là: Đa chấn thương.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Giữa hai phương tiện có dấu vết va chạm, va chạm xảy ra giữa hai phương tiện tại phần đường bên trái theo hướng đi Đồng Lê - B của xe nhãn hiệu HONDA, số loại Air Blade, biển kiểm soát 73D1- 213.52.

Tại Bản kết luận giám định số 227/KL-KTHS ngày 25/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận:

- Dấu vết hằn trượt xước bám dính chất màu đỏ, đen (dạng sơn) ở mang xe phía bên trái xe mô tô biển số 73V1 – 7075 (ảnh 5 trang Bản ảnh giám định) có đặc điểm phù hợp với dấu vết trượt xước bám dính chất màu trắng (dạng sơn) ở mang xe phía bên trái xe mô tô biển số 73D1- 213.52 (ảnh 21 trong Bản ảnh gián định).

- Dấu vết gãy rời, trượt xước ở gác để chân phía trước bên trái xe mô tô biển số 73V1- 7075 (ảnh 7, 8, 9 trong ảnh Bản ảnh giám định) có đặc điểm phù hợp với dấu vết trượt xước mất cao su ở má bên trái và mặt lăn lốp bánh xe trước; dấu vết trượt xước bám dính chất màu đen (dạng cao su), chất màu nâu (dạng gỉ sắt) ở bậc để chân phía trước bên trái xe mô tô biển số 73D1 – 213.52 (ảnh 19, 20, 22, 23 trong Bản ảnh giám định).

- Đặc điểm các dấu vết nêu trên phù hợp tình huống mang xe phía bên trái, gác để chân phía trước bên trái xe mô tô biển số 73V1- 7075 va chạm với lốp bánh xe trước, phuộc trước bên trái, mang xe phía bên trái, bậc để chân phía trước bên trái xe mô tô biển số 73D1- 213.52 theo hướng từ trước ra sau so với trục dọc xe mô tô biển số 73D1-213.52.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T đã tạm giữ:

  • + 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 73D1- 213.52, nhãn hiệu: HONDA; Số loại Air Blade; xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông;
  • + 01 (một) mô tô biển kiểm soát 73V1- 7075; nhãn hiệu YAMAHA; Số loại Taurussr; xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông;
  • + 01 (một) giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số D, mang tên Trần Tiến D do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 10/05/2017,

Ngày 30/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã lại tài sản cho đại diện gia đình người bị hại bà Nguyễn Thị H1 một xe mô tô biển kiểm soát 73V1- 7075; trả lại cho Trần Tiến D 01 xe mô tô biển kiểm soát 73D1- 213.52, nhãn hiệu: HONDA; Số loại Air Blade; Màu sơn: Đen - đỏ. Riêng xe giấy phép lái xe mang tên Trần Tiến D hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa.

* Về trách nhiệm dân sự: Trần Tiến D đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng chẵn). Đại diện gia đình bị hại chị Nguyễn Thị H1 đã nhận đủ số tiền nói trên, cam đoan chấm dứt phần dân sự và không có yêu cầu gì thêm về phần bồi thường dân sự.

Bản Cáo trạng số 34/CT-VKSTH-HS ngày 23/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa truy tố bị cáo Trần Tiến D về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; các điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Tiến D 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng; về xử lý tài liệu, đồ vật: trả lại giấy phép lái xe cho bị cáo Trần Tiến D; về phần bồi thường dân sự: Các bên đã thỏa thuận xong, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét; về án phí: Buộc bị cáo Trần Tiến D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Trung H2 vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của anh H2 không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án do anh H2 đã có lời khai đầy đủ lưu trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX xử quyết định xét xử vắng mặt anh H2.

[3] Về cấu thành tội phạm: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Tiến D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa đã truy tố bị cáo trước Tòa án. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám phương tiện, bản ảnh, kết luận giám định tử thi và các tài liệu, chứng

cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 17/01/2024, tại K +640 Quốc lộ A thuộc địa phận thôn B, xã M, huyện T, tỉnh Quảng Bình, Trần Tiến D có giấy phép lái xe hợp lệ, trong hơi thở có nồng độ cồn 1.093 mg/1 lít khí thở (trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở) trực tiếp điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73D1- 213.52 đi không đúng phần đường, làn đường quy định, xử lý kém gây tai nạn với xe mô tô biển kiểm soát 73V1- 7075 do anh Nguyễn Lý H đang lưu thông phía trước ngược chiều. Hậu quả, anh Nguyễn Lý H tử vong. Hành vi của bị cáo Trần Tiến D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông thông đường bộ” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo Trần Tiến D về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Xét Trần Tiến D tại thời điểm gây tai nạn là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng khi điều kiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ đã không chấp hành đúng quy định của pháp luật về giao thông đường bộ, điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi trong hơi thở có nồng độ cồn 1.093 mg/1 lít khí thở (trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở), gây tai nạn, hậu quả làm chết một người. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng của người khác, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông trên địa bàn, gây tâm lý bất an cho người dân khi tham gia giao thông. Lỗi trong vụ tai nạn này thuộc về bị cáo, vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án đủ nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại, khắc phục hậu quả đối với gia đình bị hại, được gia đình bị hại ghi nhận, nên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị miễn, giảm trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử qua thảo luận, đánh giá quyết định áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ về hình phạt cho bị cáo.

[7] Về nhân thân: Ngoài việc thực hiện hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong vụ án này, bị cáo chưa có lần nào vi phạm pháp luật bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử phạt nên bị cáo có nhân thân tốt.

[8] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy tuy hành vi của bị cáo thuộc tội phạm nghiêm trọng nhưng bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt nên chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng mức, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường số tiền 150.000.000 đồng cho gia đình bị hại Nguyễn Lý H. Đại diện hợp pháp của bị hại là chị Nguyễn Thị H1 đã nhận đủ số tiền và cam đoan chấm dứt phần dân sự, không có yêu cầu gì thêm về phần bồi thường nên HĐXX không xem xét. Đối với anh Nguyễn Tất T, bị tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định với tỷ lệ 03% nhưng anh T không yêu cầu bị cáo D bồi thường gì nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

[10] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại một xe mô tô biển kiểm soát 73V1- 7075 (đứng tên chủ sở hữu anh Lê Trung H2) cho chị Nguyễn Thị H1, anh H2 không có ý kiến, yêu cầu gì do anh đã thừa nhận tặng cho xe mô tô trên cho bị hại Nguyễn Lý H; trả lại cho một xe mô tô biển kiểm soát 73D1- 213.52 cho bị cáo Trần Tiến D là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Giấy phép lái xe hạng A1, số D, mang tên Trần Tiến D do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 10/05/2017 hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa. Xét do, Trần Tiến D không bị HĐXX áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe, nên cần trả lại Giấy phép lái xe này cho bị cáo sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[11] Về án phí: Bị cáo Trần Tiến D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Tuyên bố bị cáo Trần Tiến D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Xử phạt: Bị cáo Trần Tiến D 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/9/2024.

Quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo kể từ ngày tuyên án (10/9/2024) cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Giao bị cáo Trần Tiến D2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết

định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Trách nhiệm dân sự: Miễn xét.

4. Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Trần Tiến D 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số D, mang tên Trần Tiến D do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 10/05/2017, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Giấy phép lái xe nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

(Vật chứng có số lượng, đặc điểm như mô tả tại Biên bản về việc giao, nhận vật chứng lập ngày 25/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa).

5. Án phí: Bị cáo Trần Tiến D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/9/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Q. Bình;
  • - VKSND tỉnh Q. Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Q. Bình;
  • - VKSND huyện Tuyên Hóa;
  • - Công an huyện Tuyên Hóa (02 bản);
  • - Chi cục THADS huyện Tuyên Hóa;
  • - Bị cáo, đại diện hợp pháp bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu VP; HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRần Tiến D vi phạm quy định về giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger