|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2024/HS-ST
Ngày 10-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa
Bà Đoàn Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Ngọc T (tên gọi khác H), sinh ngày 18 tháng 9 năm 2003 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Trần Văn H1 (chết) và bà Nguyễn Thị Kim A; chưa có vợ con; tiền án: Ngày 11/11/2022 bị Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số: 29/2022/HS-ST; tiền sự: không; Bị cáo hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện A về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy trong vụ án khác; có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Huỳnh Ngọc T1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K (có mặt)
Bị hại: Chị Thị N, sinh năm 1970. Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 28/7/2023 bị can Trần Ngọc T sinh năm 2003, Danh Ngọc S sinh ngày 08/02/2008 và Nguyễn Văn T2 sinh ngày 26/7/2010 cùng nhau rủ đi tìm tài sản để lấy trộm bán kiếm tiền tiêu xài thì cả 03 đồng ý. Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 29/7/2023 T điều khiển xe Sirius, biển kiểm soát 68M1-391.01 màu xám đen, chở S và T2 đi tìm tài sản, khi đi đến nhà bà Thị N thuộc ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang thì T kêu S và T2 vào nhà bà N tìm tài sản trộm, T ở ngoài đợi, S và T2 đã lén lút mở cửa vào được bên trong nhà thì phát hiện có bà Thị N đang ngủ trong mùng, S đưa tay vào mùng lấy trộm 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo màu đen đỏ loại F9S, sau đó cả hai lên xe của T, cả 03 đối tượng bỏ chạy về nhà của T. Lúc này, S hỏi T “Ở đây có nơi nào cầm điện thoại lấy tiền không?” T trả lời là “Không có”, nên S giữ điện thoại lại để sử dụng, sau đó cả 03 người ngủ lại nhà của T và mấy hôm sau bị Cơ quan Công an mời về trụ sở để xác minh làm rõ sự việc.
Ngoài ra Trần Ngọc T, Danh Ngọc S, Nguyễn Văn T2 còn khai nhận: Có trộm thêm 05 chiếc xe mô tô và 01 con gà trên địa bàn xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, ngày 09/8/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện A đã tiến hành điều tra xác minh tại địa điểm nêu trên, thì không có vụ trộm nào xảy ra, cũng không có bị hại nào trình báo với cơ quan Công an là bị mất tài sản như: Xe mô tô, con gà như các đối tượng khai nhận, hiện tại cơ quan điều tra vẫn đang tiếp tục điều tra làm rõ, nếu có đủ căn cứ khởi tố hình sự, sẽ xử lý ở một vụ án khác. Tại Cơ quan điều tra, bị can Trần Ngọc T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Ngày 06/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A, tỉnh Kiên Giang ra yêu cầu Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A định giá thiệt hại tài sản.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐGTS ngày 19/9/2023 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A kết luận: 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Oppo F9S, màu đỏ số IMEI1: 866376046368855, số IMEI2: 866376046368848, mua tháng 7 năm 2021. Tổng giá trị tài sản thiệt hại theo định giá là 1.500.000 đồng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Oppo F9S, màu đỏ số IMEI1: 866376046368855, số IMEI2: 866376046368848, mua tháng 7 năm 2021. Cơ quan CSĐT Công an huyện A đã trả lại cho bà Thị N ngày 02/10/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu.
Tại Cáo trạng số 21/CT-VKS-AM ngày 22-02-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Trần Ngọc Thảo về tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Trần Ngọc T phạm tội Trộm cắp tài sản và đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Ngọc T từ 09 đến 12 tháng tù; Về vật chứng là chiếc điện thoại di động đã trả lại cho bị hại nhận, về trách nhiệm dân sự bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên đề nghị không xem xét.
- Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất về tội danh; về hình phạt tù là nghiêm khắc. Vì quá trình điều tra, tại phiên tòa thể hiện ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình khó khăn, mồ côi cha, mẹ bị bệnh mất sức lao động; giá trị tài sản không lớn. Đề nghị HĐXX xem xét, đánh giá toàn diện ra mức án phù hợp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện cơ bản đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Thấy họ đã có lời khai, không yêu cầu gì thêm nên tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:
[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào rạng sáng ngày 29/7/2023, Trần Ngọc T điều khiển xe máy chở Danh Ngọc S và Nguyễn Văn T2 đi tìm tài sản lấy trộm, khi đi đến khu vực thuộc ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang T dừng xe lại, T kêu T2 và S vào nhà của bà Thị N tìm tài sản để lấy trộm, còn T đậu xe ở ngoài đợi. Khi vào đến nhà bà Thị N thì S lén lút lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Oppo F9S, màu đỏ số IMEI1: 866376046368855, số
IMEI2: 866376046368848, sau khi lấy trộm xong T điều khiển xe chở S và T2 đi khỏi hiện trường. Chiếc điện thoại di động lấy trộm của bà Thị N theo kết luận định giá có giá trị là 1.500.000 đồng.
[2.2] Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức được việc lén lút lấy trộm tài sản của người khác là phạm tội nhưng bị cáo vẫn thực hiện, nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại, tuy bị cáo không trực tiếp lấy trộm tài sản nhưng bị cáo là người điều khiển xe máy chở theo S và T2 đi tìm tài sản để lấy trộm, là người kêu S và T2 vào nhà bà Thị N tìm tài sản lấy trộm và điều khiển xe chở S và T2 tẩu thoát khỏi hiện trường nên được xác định là đồng phạm; ngày 11/11/2022 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số: 29/2022/HS-ST, chưa được xóa án tích thì đến ngày 27/9/2023 lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị theo kết luận định giá là 1.500.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Trần Ngọc T phạm tội trộm cắp tài sản theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Đối với Danh Ngọc S và Nguyễn Văn T2 có hành vi trộm cắp tài sản cùng với T nhưng tài sản lấy trộm theo kết luận định giá chưa đủ định lượng để xử lý hình sự nên không xem xét xử lý trong vụ án này là phù hợp. Công an huyện A đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Danh Ngọc S, riêng Nguyễn Văn T2 chưa đủ tuổi nên không xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo đã bị kết án về tôi trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nhưng trong vụ án này đã được dùng làm căn cứ để định tội nên xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây bất bình trong nhân dân nên cần có hình thức xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng tuy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự,
gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân, bị cáo đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản nhưng vẫn không sửa chữa sai phạm mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo đã gây ra và nhằm phòng ngừa, răn đe, cảnh tỉnh chung.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
[5] Về án phí, bị cáo Trần Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nhưng do thuộc hộ nghèo có đơn xin miễn án phí nên HĐXX cho bị cáo được miễn nộp tiền án phí.
[6] Đề nghị Công an và Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh tiếp tục làm rõ việc các đối tượng khai nhận có thực hiện hành vi trộm 05 chiếc xe môtô và 01 con gà trống trên địa bàn xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, khi nào có căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc T (Hổ) phạm tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Ngọc T (Hổ) 09 (chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
2- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
3- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 12, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Trần Ngọc T được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 10-5-2024). Bị hại vắng mặt nên có quyền kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ/.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc T phạm tội Trộm cắp tài sản
