Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày 09 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Thành Giang

Ông Bùi Xuân Thắng

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Thúy Vân- Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 với bị cáo:

1. NGUYỄN THẾ D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 30 tháng 12 năm 1977 tại thành phố L, tỉnh Lào Cai; Đăng ký thường trú và nơi ở: Tổ D, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thế C (Đã chết) và bà Lê Tuyết N. Bị cáo có vợ Phạm Thị K (Không đăng ký kết hôn) và có 01 con sinh năm 2016; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Về nhân thân: Bản án số 22/2020/HS-ST ngày 11/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại quyết định số 30/QĐ-XPVPHC ngày 11/6/2014 của Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 11/6/2014 chấp hành xong hình phạt

Bị cáo bị bắt bị bắt tạm giữ ngày 18/12/2023, tạm giam từ ngày 24/12/2023 đến ngày 05/3/2024 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Có mặt.

2. NGUYỄN DUY Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10 tháng 6 năm 1978 tại tỉnh Nam Định; Đăng ký thường trú: Tổ B, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 4/12;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Dương Đ (Đã chết) và bà Phan Thị L. Bị cáo có vợ Nguyễn Thị B và có 02 con sinh năm 2010 và 2021; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Về nhân thân: Bản án số 81/2013/HSST ngày 18/7/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung 5.000.000 đồng. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt

Bị cáo bị bắt bị bắt tạm giữ ngày 17/12/2023, tạm giam ngày 23/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 17/12/2023 Nguyễn Thế D đang ở nhà thì nảy sinh ý định đi mua ma túy về bán kiếm lời, Nguyễn Thế D đi xe ôm đến khu vực đường Q, gầm cầu chui cao tốc thuộc thôn G, xã Đ, thành phố L để tìm mua ma túy. Tại đây, Nguyễn Thế D gặp một người nam giới và hỏi mua 2.000.000 đồng được 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa ma túy Heroine. Nguyễn Thế D cầm gói ma túy ở lòng bàn tay trái rồi tiếp tục đi xe ôm về nhà. Về đến nhà, Nguyễn Thế D lên phòng ngủ tầng 2 mở kiểm tra gói nilon vừa mua thì thấy bên trong có chứa chất bột khô, màu trắng, Nguyễn Thế D dùng dao lam chia cục ma túy thành 32 phần rồi gói vào các gói giấy bạc để bán kiếm lời. Sau khi chia ma túy xong, Nguyễn Thế D lấy 06 gói ma túy cho vào 01 túi nilon có mép miết rồi cất giấu trong giỏ mây treo ở gian bếp tầng 1, 01 gói ma túy cất giấu trong giỏ nhựa để ở chân ghế trong phòng bếp tầng 1, 03 gói ma túy còn lại Nguyễn Thế D cất trong hộp kim loại dưới gầm cầu thang tầng 1. Sau khi cất xong ma túy, Nguyễn Thế D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24K6 – 8939 đến khu vực sân bóng cạnh ủy ban nhân dân phường C để tìm người mua ma túy.

Đến khoảng 12 giờ ngày 17/12/2023 Nguyễn Thế D đang ngồi trên xe mô tô thì Nguyễn Duy Đ2 đến gặp và hỏi mua 100.000 đồng ma túy, Nguyễn Thế D đã đưa cho Nguyễn Duy Đ2 01 gói ma túy Heroine. Sau khi mua được ma túy Nguyễn Duy Đ2 cất giấu ma túy trng túi áo khoác bên phải đang mặc và đi bộ về nhà. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 17/12/2023 khi Nguyễn Duy Đ2 đang đứng trước cửa nhà tại số A, đường H, tổ B, phường C, thành phố L thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố L kiểm tra và bắt giữ cùng tang vật là 01 gói ma túy Heroine Nguyễn Duy Đ2 vừa mua của Nguyễn Thế D.

Ngày 17/12/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thế D tại số nhà A, đường Đ, tổ D, phường C, thành phố L và thu giữ 01 gói giấy bạc bên trong là nilon màu xanh chứa chất bột khô màu trắng, vón cục để trong giỏ nhựa đặt ở chân ghế gian phòng bếp tầng 1; 01 cân điện tử màu đen; 10 mảnh giấy bạc; 03 mảnh nilon màu xanh; 03 mảnh nilon màu đen; Bên trong giỏ mây cói trên tường 01 túi nilon có mép miết có 06 gói giấy bạc chứa các cục chất bột khô, màu trắng; 01 túi nilon có mép miết bên trong có 08 gói giấy bạc bên trong lớp nilon màu xanh chứa chất bột khô màu trắng, vón cục và 14 gói giấy bạc chứa các cục chất bột khô, màu trắng. Thu giữ dưới gầm cầu thang 01 gói giấy bạc chứa các cục chất bột khô, màu trắng, bên trong hộp kim loại có 01 gói giấy chứa các cục chất bột khô, màu trắng. Cơ quan điều tra đã tiến hành niêm phong vật chứng. Ngoài ra còn tạm giữ của Nguyễn Thế D 2.500.000 đồng tiền Ngân hàng N1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO bên trong có lắp 02 sim số 0829 877 286, 0398 116 289; 01 xe mô tô biển kiểm soát 24K6 – 8939.

Kết luận giám định số 11/KL-GĐMT ngày 22/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận số ma túy thu giữ của Nguyễn Duy Đ2: 0,14 (Không phẩy mười bốn) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi giám định là loại chất ma tuý Heroine.

Kết luận giám định số 12/KL-GĐMT ngày 26/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận số ma túy thu giữ của Nguyễn Thế D: 4,21 (Bốn phẩy hai mươi mốt) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi giám định là loại chất ma tuý Heroine.

Quá trình điều tra Nguyễn Thế D khai mua ma tuý heroine của một người nam giới không quen biết với mục đích để bán kiếm lời và bị cáo đã bán được cho Nguyễn Duy Đ2 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Duy Đ2 khai nhận đã mua 01 gói ma tuý heroine của Nguyễn Thế D để sử dụng cho bản thân.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, tang vật thu giữ và kết luận giám định.

Cáo trạng số 15/CT-VKSTP ngày 05/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Thế D về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Duy Đ2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 - Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thế D

từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, phạt bổ sung 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng nộp vào Ngân sách Nhà nước; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy Đ2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51- Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Đ2 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị xử lý vật chứng vụ án, T án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 17/12/2023, bị cáo Nguyễn Thế D đã có hành vi mua 4,35 gam ma túy Heroine nhằm mục đích để bán kiếm lời và đã bán cho Nguyễn Duy Đ2 0,14 gam Heroine với giá 100.000 đồng thì bị phát hiện; Bị cáo Nguyễn Duy Đ2 đã có hành vi mua 0,14 gam Heroine của Nguyễn Thế D để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện và bắt quả tang. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thế D đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, hành vi của bị cáo Nguyễn Duy Đ2 đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng: Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết pháp luật, mặc dù biết việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo thiếu ý thức chấp hành, cố ý thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố L. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật, cần áp dụng hình phạt tù, có mức án tương xứng với hành vi phạm tội, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thế DNguyễn Duy Đ2 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Bị cáo Nguyễn Duy Đ2 có bố đẻ là ông Nguyễn Dương Đ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất; Bị cáo Nguyễn Thế D có bố đẻ là ông Nguyễn Thế C được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51- Bộ luật Hình sự mà các bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Thế DNguyễn Duy Đ2 là những người có nhân thân xấu. Bị cáo Nguyễn Thế D tại bản án số 22/2020/HS-ST ngày 11/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tại quyết định số 30/QĐ-XPVPHC ngày 11/6/2014 của Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo Nguyễn Duy Đ2 tại bản án số 81/2013/HSST ngày 18/7/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung 5.000.000 đồng. Các bị cáo đều đã chấp hành xong hình phạt của các bản án, quyết định trên và đều đã được xóa án tích.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Thế D thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy để nhằm mục đích bán kiếm lời, vì vậy cần xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Duy Đ2 không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 24K6-8939, số khung AB04012121741, số máy E348-VN121741 quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô là tài sản của bà Lê Tuyết N, bà N không biết Nguyễn Thế D sử dụng xe để đi mua ma túy nên ngày 26/02/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại chiếc xe trên cho bà Lê Tuyết N là phù hợp; Đối với 0,11 gam Heroin (Thu giữ của Nguyễn Duy Đ2) và 2,88 gam Heroine (Thu giữ của Nguyễn Thế D) còn lại sau giám định thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; 10 mảnh giấy bạc, 03 mảnh nilon màu xanh, 03 mảnh nilon màu đen, 01 cân điện tử màu đen thu giữ của Nguyễn Thế D là vật không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số Imei: 865039062800935 bên trong có lắp 02 sim đã ngừng hoạt động (Đã qua sử dụng) thu giữ của Nguyễn Thế D là tài sản của bị cáo cần trả lại cho bị cáo, tuy

nhiên bị cáo còn phải thi hành khoản tiền phạt và án phí nên cần tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án;

Đối với số tiền 2.500.000 đồng tạm giữ của Nguyễn Thế D trong đó có 100.000 đồng là số tiền bị cáo do phạm tội mà có, vì vậy, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước, còn 2.400.000 đồng cần tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án là phù hợp.

[7] Về các vấn đề khác: Đối với người nam giới đã bán ma túy cho Nguyễn Thế D ngày 17/12/2023, ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu chứng cứ để chứng minh. Do vậy, khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý sau;

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136- Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Nguyễn Thế D 03 (Ba) năm tù, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, khấu trừ cho bị cáo 79 ngày tạm giữ, tạm giam.

Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy Đ2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Nguyễn Duy Đ2 01 (Một) năm tù, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo 17/12/2023.

2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,11 gam ma túy Heroine cùng toàn bộ niêm phong cũ, trên một mặt của bì niêm phong mới này có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Duy Đ2 ngày 17/12/2023 tại tổ B, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai”; Tịch thu tiêu hủy 2,88 gam ma túy Heroine cùng toàn bộ niêm phong cũ, trên một mặt của bì niêm phong mới này có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thế D ngày 17/12/2023 tại tổ D, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai

Tịch thu tiêu hủy 10 (Mười) mảnh giấy bạc, 03 (Ba) mảnh nilon màu xanh, 03 (Ba) mảnh nilon màu đen, 01 cân điện tử màu đen (Thu giữ của Nguyễn Thế D).

Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số Imei: 865039062800935 bên trong có lắp 02 sim đã ngừng hoạt động (Đã qua sử dụng) (Thu giữ của Nguyễn Thế D)

(Vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/4/2024)

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) trong tổng số tiền 2.500.000 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thế D, tạm giữ số tiền 2.400.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thế D (Theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 04/01/2024 tại Kho bạc Nhà nước L1)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lào Cai (1);
  • - TAND tỉnh Lào Cai (1);
  • - VKSND TP. Lào Cai (1);
  • - Sở Tư pháp (1); Trại TG;
  • - CQCSĐT CATP (1);
  • - Bị cáo (2);
  • - THA DS TP. Lào Cai (1);
  • - HS THA HS (1);
  • - Lưu văn phòng (1)
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI về hình sự: mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THẾ D, NGUYÊN DUY Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger