Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MANG THÍT

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày 09-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đinh Cường – Nguyên Bí thư đoàn thanh niên thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít.

Ông Lê Thành Tam – Nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Mang Thít.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thúy Duy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Đặng Đăng K, sinh ngày 27/8/2007 tại Trạm y tế P, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: Khóm C, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn R (chết) và bà Trần Thị N; có 04 anh chị em ruột (lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất là bị cáo); tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: chưa có án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đã được xóa; hiện bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo:

Trần Thị N, sinh năm 1959 (có mặt)

Địa chỉ: Khóm C, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Văn N1 – Trợ giúp viên pháp lý của

Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh V (có mặt)

Địa chỉ: A, đường N, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị hại: Ủy ban nhân dân xã T Hội

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện theo ủy quyền của bị hại: Ông Nguyễn Văn Bé H - Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Huỳnh Hải Đ, ngày 28/01/2010 (có mặt)
  2. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long

    Người đại diện theo pháp luật của Huỳnh Hải Đ:

    • + Ông Huỳnh Văn Ú, sinh năm 1979 (có mặt)
    • + Bà Võ Thị M, sinh năm 1977 (vắng mặt)

    Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long

    Võ Thị M ủy quyền cho ông Huỳnh Văn Ú tham gia tố tụng.

  3. Lưu Minh H1, sinh ngày 30/11/2007 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long

    Người đại diện theo pháp luật của Lưu Minh H1:

    • + Ông Lưu Minh E, sinh năm 1985 (vắng mặt)

    Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

    • + Bà Phạm Thị Thanh T, sinh năm 1990 (vắng mặt)

    Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long

    Phạm Thị Thanh T ủy quyền cho ông Lưu Minh E tham gia tố tụng.

  5. Đặng Thành K1, sinh ngày 14/10/2009 (vắng mặt)
  6. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long

    Người đại diện theo pháp luật của Đặng Thành K1:

    • + Ông Đặng Thành K2, sinh năm 1983 (vắng mặt)
    • + Bà Trần Thị Trúc N2, sinh năm 1986 (vắng mặt)

    Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long

    Trần Thị Trúc N2 ủy quyền cho ông Đặng Thành K2 tham gia tố tụng.

  7. Trần Thị N, sinh năm 1959 (có mặt)
  8. Địa chỉ: Khóm C, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

  9. Ông Huỳnh Văn Ú, sinh năm 1979 (có mặt)
  10. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

  11. Ông Lưu Minh E, sinh năm 1985 (vắng mặt)
  12. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

  13. Ông Đặng Thành K2, sinh năm 1983 (vắng mặt)
  14. Địa chỉ: ấp Tân Tiến, xã Tân Long Hội, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long

  15. Ông Phạm Hữu T1, sinh năm 1992 (vắng mặt)
  16. Địa chỉ: ấp Tân Tiến, xã Tân Long Hội, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long

  17. Đặng Văn K3, sinh năm 1985 (vắng mặt)
  18. Địa chỉ: Khóm C, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 28/9/2023, Huỳnh Hải Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên rủ bị cáo Đặng Đăng K đi trộm những tấm pin năng lượng mặt trời tại: ấp T và ấp T, xã T để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân thì bị cáo K đồng ý. Sau đó bị cáo K rủ thêm Lưu Minh H1Đặng Thành K1 cùng đi trộm và cả nhóm hẹn tối ngày 30/9/2023 cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Đến khoảng 23 giờ 40 phút, ngày 30/9/2023, H1 điều khiển xe mô tô biển số: 64FC - 4672 (loại xe Wave) màu đen chở K1; bị cáo K điều khiển xe mô tô biển số: 64M1-3393, nhãn hiệu Future màu đỏ, đen cùng đến nhà của Đ. Đến 00 giờ 10 phút, ngày 01/10/2023, H1 điều khiển xe mô tô chở K1, còn bị cáo K thì chở Đ đến đoạn đường liên ấp T và ấp T để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến địa điểm thì cả nhóm nhìn thấy trụ đèn năng lượng mặt trời đang thắp sáng, lúc này không có ai trong coi nên bị cáo KH1 dừng xe lại gần trụ đèn. ĐK1 nắm kéo cây trụ đèn thứ nhất ngã xuống đường, còn H1K đứng kế bên xe mô tô cảnh giới. Sau đó Đ dùng tay, chân bẻ lấy tấm pin năng lượng mặt trời; đến cây trụ đèn thứ hai thì Đ, H1K1 cùng thực hiện liên tục như vậy từ đoạn đường liên ấp T đến ấp T lấy tổng cộng 10 (mười) tấm pin năng lượng mặt trời (K1 tham gia thực hiện khoảng năm cây trụ đèn thì không có thực hiện nữa và đứng cùng với K cảnh giới). Đến khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 01/10/2023, sau khi lấy xong thì H1 điều khiển xe mô tô chở K1 ngồi phía sau ôm 05 (năm) tấm pin, còn bị cáo K thì chở Đ ngồi phía sau ôm 05 (năm) tấm pin đến chân cầu S, thuộc: ấp T, xã T, huyện M để cất giấu.

Đến khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 03/10/2023, bị cáo K điều khiển xe mô tô biển số 64M1-3393, chở Đ đến chỗ cất giấu lấy 04 (bốn) tấm pin năng lượng mặt trời đến vựa phế liệu của ông Ngô Hoàng B, sinh năm: 1976, nơi cư trú: Khóm B, Thị trấn C, huyện M để bán, nhưng ông B không mua nên bị cáo K

chở Đ đi về. Khi đi về cách vựa phế liệu khoảng 200 mét, Đ ném 04 (bốn) tấm pin xuống lề lộ bên phải hướng đi, sau đó bị cáo KĐ về nhà. Đến ngày 06/10/2023, Công an xã T, huyện M đã mời Đặng Đăng K, Huỳnh Hải Đ, Lưu Minh H1Đặng Thành K1 về làm việc. Qua làm việc thì các đối tượng đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 55/KLĐGTS ngày 20/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện M kết luận: 10 (mười) tấm pin năng lượng mặt trời cùng hiệu Elink - Solar Panel 150W, Model: EDDS3-1502, Công suất tối đa 22W; Loại: Polycrytlline; Kích thước: 450 mm x 350 mm x 17 mm; Điện áp: 6V: 475.000 đồng/tấm x 10 tấm = 4.750.000 đồng.

Ngày 01/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Đặng Đăng K, về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can.

*Vật chứng thu giữ:

  • 06 (sáu) tấm pin năng lượng mặt trời cùng hiệu Elink - Solar Panel 150W, Model: EDDS3-150. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã chứng minh đây là tài sản thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân xã T. Hiện nay đã trả lại cho Ủy ban nhân dân xã T Hội xong.
  • 01 (một) xe mô tô biển số: 64FC-4672; nhãn hiệu: ETS; số loại: C50; màu sơn: Đen xám; số máy: 39FMB002393; số khung: 2UM8XT02393. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã chứng minh đây là tài sản của ông Phạm Hữu T1 (cậu ruột của H1) cho H1 mượn đi học, khi H1 dùng phương tiện xe mô tô trên thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì ông T1 không biết. Hiện nay đã trả lại cho ông T1 xong.
  • 01 (một) xe mô tô biển số: 64M1-3393; nhãn hiệu: HONDA; số loại: Future X; màu sơn: Đỏ đen trắng; số máy: JC35E3220248; số khung: JC3508AY410117. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã chứng minh đây là tài sản của ông Đặng Văn K3 (anh ruột của bị cáo K) khi bị cáo K dùng phương tiện xe mô tô trên thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì ông K3 không biết. Hiện nay đã trả lại cho ông K3 xong.

Trong quá trình điều tra bị cáo Đặng Đăng K đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

*Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện bị hại là ông Nguyễn Văn Bé H, yêu cầu bị cáo Đặng Đăng K, Huỳnh Hải Đ, Đặng Thành K1Lưu Minh H1 bồi thường tiền thi công, lắp đặt, sữa chữa 10 trụ đèn và bộ bóng đèn với tổng số tiền là 12.428.000 đồng. Với yêu cầu trên hiện nay bị cáo K, Đ, K1H1 đã tác động gia đình bồi thường xong.

Đối với hành vi của Lưu Minh H1 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện M đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo theo quy định pháp luật.

Đối với Huỳnh Hải ĐĐặng Thành K1 tính đến ngày thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì chưa đủ 14 tuổi nên cho viết Cam kết không tái phạm, giao cho gia đình và địa phương quản lý, giáo dục.

Đối với 04 (bốn) tấm pin năng lượng mặt trời cùng hiệu Elink - Solar Panel 150W, Model: EDDS3-150, sau khi bán không được Đ đã ném 04 (bốn) tấm pin xuống lề lộ và bị mất. Hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu hồi được.

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Đăng K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS.HMT, ngày 21/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố bị cáo Đặng Đăng K về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Đặng Đăng K đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị tuyên bố bị cáo Đặng Đăng K phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung và không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
  • - Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản và đã nhận tiền bồi thường xong, nên không xem xét giải quyết.
  • - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đặng Đăng K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận mình có tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Ý kiến của Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo trình bày: Bị cáo chưa thành niên, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội gây thiệt hại không lớn; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không

cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội. Đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử cho bị cáo 06 tháng cải tạo không giam giữ.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Đăng K khai nhận: Vào khoảng 00 giờ 10 phút, ngày 01/10/2023, bị cáo K cùng với H1, K1Đ đã lén lút lấy trộm tổng cộng 10 (mười) tấm pin năng lượng mặt trời từ đoạn đường liên ấp T đến ấp T, 10 tấm pin năng lượng mặt trời có giá trị là 4.750.000 đồng. Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của những người cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, lời khai của đại diện bị hại, phù hợp với vật chứng Cơ quan điều tra thu giữ được và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, có đủ cơ sở xác định bị cáo Đặng Đăng K phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được luật hình bảo vệ, đó là quyền sở hữu về tài sản. Bị cáo vì muốn có tiền để tiêu xài cá nhân, bị cáo lại không tích cực lao động sản xuất để có thu nhập hợp pháp, mà có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác làm của riêng mình, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng vẫn quyết tâm thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự xem thường pháp luật, gây bất bình trong xã hội, làm mất trật tự ở địa phương. Vì thế cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có khả năng tự cải tạo. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung và nghĩa vụ khấu trừ thu nhập:

Không áp dụng hình phạt bổ sung và không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo do bị cáo dưới 18 tuổi.

[6] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản và đã nhận tiền bồi thường xong, nên không xem xét giải quyết.

[7] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.

[8] Xét, đề nghị của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo là có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đặng Đăng K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 100 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    • - Tuyên bố bị cáo Đặng Đăng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • - Xử phạt bị cáo Đặng Đăng K 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.

    Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện M nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung và không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

  2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản và đã nhận tiền bồi thường xong, nên không xem xét giải quyết.
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Đặng Đăng K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

  4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo; các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long;
  • - Phòng hồ sơ – Công an tỉnh VL;
  • - VKSND huyện Mang Thít;
  • - Công an huyện Mang Thít;
  • - Chi cục THADS huyện Mang Thít;
  • - UBND thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ngọc Bích

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger