Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày 08-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Lan Anh
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huệ và ông Lê Hải Nam
  • Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Thảo- Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 bằng hình thức trực tuyến, trong đó điểm cầu Trung tâm tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên; 01 điểm cầu Thành phần tại Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên đối với bị cáo:

Họ và tên: Triệu Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 21/02/2001; Nơi thường trú: thôn H, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Triệu Văn T1 và bà: Trần Thị C; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

  • + Bản án hình sự số 42/2017/HSST ngày 27/9/2017, Toà án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2017/HSST ngày 07/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo; bản án hình sự phúc thẩm số 08/2017/HSPT ngày 19/12/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn sửa bản án sơ thẩm xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên từ ngày 08/01/2024 đến nay; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1972 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T; có mặt.

- Người chứng kiến:

  • + Ông Dương Văn H, sinh năm 1976; Trú tại: TDP T, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
  • + Ông Phạm Viết H1, sinh năm 1967; Trú tại: TDP T, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
  • * Người tham gia tố tụng khác: Đồng chí Ngô Thế – Cán bộ dẫn giải Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại điểm cầu Công an thành phố S).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 08/01/2024, tổ công tác Công an phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực tổ T, phường P, thành phố S thì phát hiện 01 nam thanh niên khoảng 25 tuổi mặc áo da màu đen, quần vải màu đen, đứng tại đường dân sinh tổ dân phố có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật. Tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính thì xác định nam thanh niên tên là Triệu Văn T, sinh năm 2001, trú tại thôn H, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn và phát hiện, thu giữ 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng bị vón cục, T đang cầm trên tay phải và thu giữ tại túi áo ngực phía trong bên trái của T 01 gói giấy nhỏ màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng. T khai nhận số chất bột màu trắng trên là ma tuý, loại Heroine, T mua về để sử dụng cho bản thân. Qua kiểm tra còn thu giữ tại túi áo da màu đen phía trước bên phải của T đang mặc 02 túi đựng bơm kim tiêm và 02 ống nước cất chưa qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngày 08/01/2024, tại phòng K Công an tỉnh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công đã tiến hành mở niêm phong vật chứng và cân xác định khối lượng đối với số chất bột màu trắng bị vón cục thu giữ của T, xác định: khối lượng 0,23 gam và lấy mẫu để trưng cầu giám định.

Tại bản kết luận giám định số 201/KL-KTHS ngày 16/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng bị vón cục thu giữ của T, gửi giám định là chất ma túy, loại heroine, có khối lượng là: 0,23 gam.

Tại cơ quan điều tra Triệu Văn T đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình như sau: do bản thân nghiện chất ma túy nên khoảng 11 giờ 00 phút ngày 08/01/2024, T đi bộ từ công ty D1 đến khu vực gầm cầu vượt đường sắt ở gần thành phố S để tìm mua ma tuý sử dụng. Khi đến nơi T gặp một người đàn ông lạ mặt, không biết tên, tuổi, địa chỉ, người này đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen, T hỏi mua ma tuý, loại heroine thì người này bảo T “đi cùng xe anh sang bên này mua”, T ngồi sau xe mô tô của người này đi đến khu vực ngã tư V, thuộc phường P, thành phố S thì dừng lại, người này nói để đi mua ma tuý. Thiêm đưa cho người này 100.000 đồng, sau đó người đàn ông này đi bộ vào trong ngõ, khoảng 10 phút sau thì quay lại và nói đã mua được ma tuý và bảo T cùng đi mua ma tuý tổng hợp về cùng sử dụng, người này đèo T đến đường dân sinh thuộc tổ T, phường P, thành phố S thì dừng xe và lại đưa cho T 01 túi nilon bên trong có chất bột màu trắng, còn người đàn ông điều khiển xe đi mua ma tuý tổng hợp, T ở lại lấy giấy bạc của bao thuốc lá Thăng L chia một phần ma tuý trong túi nilon vào giấy bạc gói cất vào túi áo ngực bên trái, phần còn lại T cầm trên tay phải và đến hiệu thuốc gần đó mua 01 xi lanh bơm kim tiêm và 01 lọ nước cất để sử dụng ma tuý. Sau đó, T quay lại đến khu vực ngã ba đường dân sinh thuộc TDP T, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Lời khai nhận tội của bị can Triệu Văn T là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định; Lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu chứng cứ khác mà cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án gồm: 01(một) phong bì niêm phong (Ký hiệu A1) bên trong có 0,212 gam mẫu còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu niêm phong ký hiệu A1; 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu A cùng túi ninon và mảnh giấy màu vàng; 01 bì niêm phong ký hiệu B, bên trong có 02 xi lanh nhựa, 02 ống nước cất, chưa qua sử dụng và 01 phong bì niêm phong ký hiệu C, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng. Hiện những vật chứng nêu trên được chuyển bảo quản theo đúng quy định về quản lý vật chứng.

Tại bản cáo trạng số 34/ CT-VKS ngày 10/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Triệu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Triệu Văn T từ 18 đến 24 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy: bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,212 gam mẫu còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu niêm phong ký hiệu A1; bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu A cùng túi nilon và mảnh giấy màu vàng; bì niêm phong ký hiệu B, bên trong có 02 xi lanh nhựa, 02 ống nước cất (chưa qua sử dụng). Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng đựng trong bì niêm phong ký hiệu C. Về án phí: bị cáo thuộc đối tượng được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là không oan, đúng người, đúng tội.

Người bào chữa trình bày lời bào chữa: Nhất trí với cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo với mức án từ 15-18 tháng tù, miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận: căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo giữ nguyên luận tội về hình phạt.

Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình và vô cùng ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Hồi 12 giờ 04 phút ngày 08/01/2024, tại khu vực tổ T, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, Triệu Văn T là người nghiện chất ma túy đã có hành vi tàng trữ 02 gói ma túy, loại Heroine có tổng khối lượng là 0,23 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an thành phố Sông Công phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự . Nội dung điều luật quy định như sau:

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...”.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

[3] Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, làm mất trật tự trị an tại địa phương, góp phần làm gia tăng các tệ nạn liên quan đến ma túy, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo có 02 nhân thân bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản.

[5] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, hiểu rõ về tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình, xã hội, đã từng 02 lần bị xét xử về tội trộm cắp tài sản nhưng lối sống buông thả, không chịu tu dưỡng bản thân nên đã vướng vào tệ nạn ma túy. Vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo nói riêng đồng thời góp phần ngăn ngừa, đấu tranh đối với tội phạm về ma túy nói chung. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản, thu nhập. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

[7] Về vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định và những vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

[8] Về án phí, quyền kháng cáo: bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[9] Về nguồn gốc số ma túy (Heroine) T khai mua của một người đàn ông T không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra Công an thành phố S không có căn cứ để xác minh, làm rõ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 47, 106, 136, 299, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên bố bị cáo Triệu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

1. Xử phạt Triệu Văn T 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2024.

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng:

  • * Tịch thu tiêu hủy:
    • + bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,212 gam mẫu còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu niêm phong ký hiệu A1;
    • + bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu A cùng túi nilon và mảnh giấy màu vàng;
    • + bì niêm phong ký hiệu B, bên trong có 02 xi lanh nhựa, 02 ống nước cất (chưa qua sử dụng);
  • * Trả cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng đựng trong bì niêm phong ký hiệu C.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/4/2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công).

4. Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.

Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND TP. Sông Công;
  • - Công an TP. Sông Công;
  • - Cơ quan THAHS TP Sông Công;
  • - Chi cục THADS TP Sông Công;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Nguyên;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, người TGTT khác;
  • - Lưu: HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đinh Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về vụ án hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 47, 106, 136, 299, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Tuyên bố bị cáo Triệu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 1. Xử phạt Triệu Văn T 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger