|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 37/2024/HSST Ngày 08 tháng 5 năm 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thân Hồng Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh và ông Nguyễn Văn Thanh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Cường – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam - Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử phiên tòa trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/202/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn T, sinh năm 1987; Giới tính: Nam;
Nơi cư trú: Thôn G, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do;
Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Bùi Thanh X, sinh năm 1962 và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1965; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án: Bản án số 244/2011/HSST ngày 02/11/2011 của Tòa án nhân dân thành Phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; phạt bổ sung 5.000.000 đồng; án phí HSST 200.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/2/2013; nộp án phí ngày 06/7/2012 và chưa nộp tiền phạt bổ sung.
Tiền sự: Không có;
Nhân thân: Bản án số 66/2017/HSST ngày 27/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt T 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; phạt bổ sung 3.000.000 đồng; án phí HSST 200.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2020; chấp hành xong tiền phạt bổ sung và án phí ngày 13/4/2018.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Công an tỉnh B, có mặt.
- Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Đình H, sinh năm 1970 (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1982 (vắng mặt)
- Anh Hà Văn Q, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Tân Lập, xã Nghĩa Hoà, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Thôn Dâu, xã Nghĩa Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Tổ dân phố S, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 25 phút ngày 28/12/2023, tại khu vực nghĩa trang T1, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an huyện L bắt quả tang bị cáo Bùi Văn T, sinh năm 1987 ở thôn G, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thu giữ tại nền bê tông chỗ T ngồi gồm:
- - Chất cục bột màu trắng nghi là ma tuý Heroine trên 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng đặt trên 01 chiếc điện thoại di động Iphone màu đỏ có ốp lưng bằng nhựa màu đỏ. Số chất nghi là ma túy được cho vào một túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa rồi niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT1”.
- - 01 lọ nhựa hình trụ tròn màu cam, có nắp đậy màu vàng, bên trong đựng: 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa và viền màu đỏ, bên trong túi đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma tuý Heroine; 04 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu, gồm 03 đoạn màu trắng xanh lá cây và 01 đoạn màu trắng xanh da trời, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều đựng mảnh viên nén màu hồng đỏ nghi là ma tuý tổng hợp. Số chất nghi là ma tuý niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT2”.
- - 02 túi nilon màu trắng một đầu của mỗi túi đều có rãnh khoá nhựa và 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu đỏ, bên trong cả 03 túi đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma tuý Heroine; 01 đoạn ống nhựa màu đỏ được hàn kín hai đầu, bên trong đựng mảnh viên nén màu hồng đỏ nghi là ma tuý tổng hợp. Số chất nghi là ma túy niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT3”.
- - 02 đoạn ống nhựa màu trắng- xanh da trời đều được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều đựng chất cục bột nghi là ma tuý Heroine ở trên chiếc cân điện tử màu trắng và đặt trên chiếc hộp giấy màu đen ở nền bê tông. Số chất nghi ma túy niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT4”.
- - 01 đoạn ống nhựa màu tím được hàn kín hai đầu, bên trong đựng chất cục bột màu hồng đỏ nghi là ma tuý tổng hợp thu giữ trong chiếc túi nilon màu đỏ đặt ở nền bê tông. Số chất nghi ma túy niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT5”.
- - 01 túi nilon màu xanh một đầu có rãnh khoá nhựa, bên trong có 01 đoạn ống nhựa màu trắng- xanh lá cây được hàn kín hai đầu, bên trong đoạn ống nhựa đựng 05 viên nén màu hồng đỏ đều nghi là ma tuý tổng hợp. Số chất nghi ma túy niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT6”.
- - 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa và viền màu đỏ, 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa, bên trong cả hai túi đều bám dính chất bột màu trắng nghi là ma tuý Heroine. Số chất nghi ma túy niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT7”.
Ngoài ra, còn thu giữ của T các đồ vật, tài sản gồm: 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 01 điện thoại Iphone màu đỏ, 01 cân điện tử màu trắng, 01 lọ nhựa quấn bên ngoài bằng băng dính đen, 09 đoạn ống nhựa (một đầu hàn kín, một đầu hở bên trong đều không đựng gì), 01 chiếc kéo bằng kim loại màu trắng, 01 chiếc kẹp gắp bằng kim loại màu trắng, 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, 01 túi nilon màu trắng (một đầu có rãnh khoá nhựa, bên trong có nhiều túi nilon nhỏ và 01 túi nilon màu đỏ, bên trong túi có: 01 chiếc kéo kẹp bằng kim loại, 01 chiếc kéo bằng kim loại có tay cầm bằng nhựa màu nâu, 01 cuộn băng dính màu đen, 01 dao tem nhãn hiệu “LORD” đã qua sử dụng), 01 chiếc điện thoại di động NOKIA màu đen, 02 mảnh giấy màu trắng, 01 túi nilon màu trắng bên trong có 03 chiếc xilanh nhựa loại 3ml/cc và 03 ống nước cất chưa qua sử dụng, 01 căn cước công dân mang tên Bùi Văn T (BL 31-33).
Cùng ngày 28/12/2023, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo Bùi Văn T nhưng không phát hiện và thu giữ đồ vật gì liên quan đến hành vi phạm tội. Đồng thời, tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với T, kết quả T dương tính với ma túy (BL 49-50; 67).
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Bùi Văn T khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 28/12/2023, T bắt xe ôm đi từ nhà xuống khu vực bờ đê C, thành phố B để tìm mua ma tuý về sử dụng. Tại đây, T gặp được một người đàn ông không quen biết và mua của người này 1.000.000 đồng ma túy được 01 túi nilon đựng ma tuý Heroine và 07 viên ma tuý “ngựa”. Đến khoảng hơn 10 giờ sáng cùng ngày, T đi xe ôm về nghĩa trang thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang rồi bỏ một ít ma túy vừa mua được ra sử dụng. Sử dụng ma túy xong, T đặt chiếc điện thoại Iphone màu đỏ xuống nền bê tông rồi để 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng lên trên điện thoại và đổ ma tuý H1 lên tờ tiền dùng dao tem chia nhỏ vào 03 túi nilon để ở nền bê tông, 02 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu để ở trên cân điện tử, 01 túi nilon có rãnh khoá để trong lọ nhựa màu vàng, còn thừa lại một ít ma tuý Heroine ở trên tờ tiền. Đối với 07 viên ma tuý “ngựa” thì T cho 05 viên vào một đoạn ống nhựa rồi hàn kín lại để trong túi nilon màu xanh để ở nền bê tông, 02 viên còn lại T cắt thành các mảnh nhỏ chia vào 06 đoạn ống nhựa rồi hàn kín lại, trong đó 01 đoạn màu đỏ T để ở nền bê tông, 01 đoạn màu tím để trong túi nilon màu đỏ, 04 đoạn còn lại T để trong lọ nhựa màu vàng. Đến khoảng 11 giờ 25 phút cùng ngày, khi vừa chia ma túy xong thì T bị lực lượng công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Tại kết luận giám định số 27/KL-KTHS ngày 03/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
“Trong 01 phong bì ký hiệu “QT1” được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa là chất ma túy, có khối lượng 1,173 gam, loại Heroine.
Trong 01 phong bì ký hiệu “QT2” được niêm phong gửi giám định:
- - Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là chất ma túy, có khối lượng 0,167 gam, loại Heroine.
- - Các mảnh viên nén đựng trong 04 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu (trong đó có: 03 đoạn màu trắng, xanh lá cây và 01 đoạn màu trắng, xanh da trời) đều là chất ma túy, có tổng khối lượng 0,197 gam loại Methamphetamine.
Trong 01 phong bì ký hiệu “QT3” được niêm phong gửi giám định:
- - Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa và 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ đều là chất ma túy, có tổng khối lượng 0,336 gam, loại Heroine.
- - Mảnh viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 đoạn ống nhựa màu đỏ được hàn kín hai đầu là chất ma túy, có khối lượng 0,010 gam, loại Methamphetamine.
Trong 01 phong bì ký hiệu “QT3” được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 đoạn ống nhựa màu trắng, xanh da trời được hàn kín hai đầu đều là chất ma túy, có tổng khối lượng 0,117 gam, loại Heroine.
Trong 01 phong bì ký hiệu “QT5” được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu hồng đỏ đựng trong 01 đoạn ống nhựa màu tím được hàn kín hai đầu là chất ma túy, có khối lượng 0,014 gam, loại Methamphetamine.
Trong 01 phong bì ký hiệu “QT6” được niêm phong gửi giám định: 05 viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 đoạn ống nhựa màu trắng, xanh lá cây được hàn kín hai đầu, được đựng trong 01 túi nilon màu xanh một đầu có rãnh khóa nhựa là chất ma túy, có tổng khối lượng 0,490 gam, loại Methamphetamine.
Trong 01 phong bì ký hiệu “QT7” được niêm phong gửi giám định: Chất bột màu trắng bám dính trong 02 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa (trong đó có: 01 túi có viền màu đỏ) đều là chất ma túy, loại Heroine, không xác định được khối lượng”(BL 54-56).
Tại kết luận giám định ADN số HT02.24/PY-XNSH ngày 05/01/2024 của V, kết luận:
“- Dấu vết trên bề mặt của các mẫu ký hiệu: “Vỏ, bao, gói hoàn lại của QT2”; “Vỏ, bao, gói hoàn lại QT6” gửi giám định có sinh phẩm của người, có ADN nhiễm sắc thể thường bị tạp nhiễm; trong đó có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu tóc của Bùi Văn T.
- Dấu vết trên bề mặt của các mẫu ký hiệu: “Vỏ, bao, gói hoàn lại của QT5” gửi giám định có sinh phẩm của người, có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu tóc của Bùi Văn T” (BL 62).
Quá trình điều tra, bị cáo Bùi Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Tại Bản cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 28/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, bị cáo không bị oan, sai.
Người làm chứng, người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa nhưng các lời khai có trong hồ sơ đã khai rõ diễn biến họ đã biết, đã chứng kiến sự việc khi cơ quan điều tra bắt quả tang bị cáo T và thu giữ, lập biên bản các tang tài vật như bị cáo đã khai tại phiên tòa.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm I khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự,
Xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị miễn phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Đại diện VKSND huyện đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy gồm: 13 phong bì niêm phong bằng dấu của các cơ quan hữu quan (bên trong chứa chất ma túy hoàn lại sau giám định hoặc có các ký hiệu khác nhau đã được thu giữ),; 01 cân điện tử màu trắng; 01 lọ nhựa quấn bên ngoài bằng băng dính đen, 09 đoạn ống nhựa một đầu hàn kín, một đầu hở bên trong đều không đựng gì; 01 chiếc kéo bằng kim loại màu trắng; 01 chiếc kẹp gắp bằng kim loại màu trắng; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa, bên trong có nhiều túi nilon nhỏ và 01 túi nilon màu đỏ, bên trong túi có: 01 chiếc kéo kẹp bằng kim loại, 01 chiếc kéo bằng kim loại có tay cầm bằng nhựa màu nâu, 01 cuộn băng dính màu đen, 01 dao tem nhãn hiệu “LORD” đã qua sử dụng,, 02 mảnh giấy màu trắng, 01 túi nilon màu trắng bên trong có 03 chiếc xilanh nhựa loại 3ml/cc và 03 ống nước cất chưa qua sử dụng;
Trả lại cho bị cáo gồm: 01 điện thoại Iphone màu đỏ, 01 chiếc điện thoại di động NOKIA màu đen, 01 căn cước công dân mang tên Bùi Văn T, nhưng tiếp tục tạm giữ 02 chiếc điện thoại để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu số tiền 100.000 đồng đã thu giữ của bị cáo.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, sau phần xét hỏi và tranh luận, bị cáo nhất trí với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và không có ý kiến gì tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang. Bị cáo nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là sai trái, là vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên:
Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng xác định đều hợp pháp.
[2] Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người làm chứng, người chứng kiến vắng mặt nhưng không ảnh hưởng tới việc xét xử nên xét xử theo thủ tục chung quy định tại 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội, tội danh và khung hình phạt áp dụng: Trước cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, nó phù hợp với các tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm, cũng như kết luận giám định, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, Bản ảnh trong hồ sơ... đã thể hiện:
Khoảng 11 giờ 25 phút ngày 28/12/2023, tại khu vực nghĩa trang thuộc thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang bị cáo Bùi Văn T, sinh năm 1987 ở thôn G, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi tàng trữ trái phép 1,793 gam ma túy Heroine và 0,711 gam ma túy Methamphetamine thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện L bắt quả tang.
Điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.” (Điểm c: Heroine, C1, Methamphetamine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam).
Như vậy, HĐXX đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, vai trò của bị cáo trong vụ án thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của nhà nước; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và sức khỏe của con người, gây ảnh hưởng không tốt đến trật tự gia đình và xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh một số tội phạm nguy hiểm khác, là con đường lây lan của một số căn bệnh xã hội. Đối với các tội phạm về ma túy, Nhà nước ta đã và đang có các chế tài rất nghiêm khắc được quy định trong luật để xử lý loại tội phạm này, nhưng các tội phạm về ma túy vẫn diễn biến phức tạp, khó lường. HĐXX thấy cần phải xử lý bằng hình phạt tù tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
[5] Về nhân thân, tiền án, tiền sự, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân, tiền sự: Bị cáo không có tiền sự nhưng có nhân thân xấu, cụ thể:
Nhân thân: Bản án số 66/2017/HSST ngày 27/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt T 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; phạt bổ sung 3.000.000 đồng; án phí HSST 200.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2020; chấp hành xong tiền phạt bổ sung và án phí ngày 13/4/2018.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố mà nhất là ở tại phiên tòa hôm nay, bị cáo rất thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được hưởng tỉnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, HĐXX xét thấy cần giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xử phạt bị cáo với mức thấp hơn mức án mà đại diện VKSND huyện đề nghị, cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật để bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội .
[6] Về việc tiếp tục tạm giam bị cáo: Hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo cho việc thi hành án, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày là phù hợp với Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm vào tội có hình phạt bổ sung bằng tiền. Tuy nhiên, theo Biên bản xác minh tài sản, xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có công ăn việc làm, sống phụ thuộc vào gia đình, không có tài sản nên cần miễn phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về các nội dung khác: Qua xét xử vụ án, HĐXX thấy:
Đối với người đàn ông bán ma túy cho T tại khu vực bờ đê C, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, T khai không biết tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ là phù hợp.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu cho Công an huyện L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T là có căn cứ.
[9] Về vật chứng:
Số vật chứng, tài sản đã chuyển theo hồ sơ để giải quyết, HĐXX thấy:
Các phong bì có chứa ma túy hoàn lại sau giám định và các phong bì chứa vỏ, bao gói hoàn lại sau giám định, 01 cân điện tử, 01 lọ nhựa quấn băng dính đen, 09 đoạn ống nhựa, 03 chiếc kéo, 01 kẹp gắp, 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa, bên trong có nhiều túi nilon nhỏ, 01 túi nilon màu đỏ, 01 cuộn băng dính màu đen, 01 dao tem, 02 mảnh giấy màu trắng, 01 túi nilon màu trắng bên trong có 03 chiếc xilanh nhựa loại 3ml/cc và 03 ống nước cất chưa qua sử dụng. Các vật chứng này hoặc là chất cấm lưu hành, hoặc đều là công cụ bị cáo T dùng chia và sử dụng ma túy, hoặc là không có giá trị sử dụng, do vậy cần phải tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 căn cước công dân, 01 điện thoại Nokia, 01 điện thoại Iphone màu đỏ là giấy tờ tùy thân và tài sản cá nhân của bị cáo T không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ 02 chiếc điện thoại để đảm bảo thi hành án. Số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo, tại phiên tòa mặc dù được giải thích nhưng bị cáo không yêu cầu được lấy lại nên cần tịch thu sung công quỹ.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Với những nhận định trên đây, HĐXX thấy những ý kiến của đại diện VKSND huyện đề nghị đối với HĐXX về đường lối giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;
Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 01 năm 10 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 28/12/2023.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
-Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật TTHS:
- Tịch thu tiêu hủy gồm:
- 01 (một) phong bì dán kín niêm phong bằng dấu của Công an xã N, L, Bắc Giang và Phòng K- Công an tỉnh B, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “QT1” (bên trong là 1,146 gam ma tuý H2 hoàn lại theo kết luận giám định số 27/KL-KTHS ngày 03/01/2024)
- 01 (một) phong bì dán kín niêm phong bằng dấu của Công an xã N, L, Bắc Giang và Phòng K- Công an tỉnh B, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “QT2" (bên trong là 1,143 gam ma tuý H2 và 0,164 gam ma tuý Methamphetamine hoàn lại theo kết luận giám định số 27/KL-KTHS ngày 03/01/2024).
- 01 (một) phong bì dán kín niêm phong bằng dấu của Công an xã N, L, Bắc Giang và Phòng K- Công an tỉnh B, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “QT3” (bên trong là 0,310 gam ma tuý H2 hoàn lại theo kết luận giám định số 27/KL-KTHS ngày 03/01/2024).
- 01 (một) phong bì dán kín niêm phong bằng dấu của Công an xã N, L, Bắc Giang và Phòng K- Công an tỉnh B, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “QT4” (bên trong là 0,091 gam ma tuý H2 hoàn lại theo kết luận giám định số 27/KL-KTHS ngày 03/01/2024).
- 01 (một) phong bì dán kín niêm phong bằng dấu của Công an xã N, L, Bắc Giang và Phòng K- Công an tỉnh B, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “QT5” (bên trong không chứa gì theo kết luận giám định số 27/KL-KTHS ngày 03/01/2024).
- 01 (một) phong bì dán kín niêm phong bằng dấu của Công an xã N, L, Bắc Giang và Phòng K- Công an tỉnh B, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “QT6” (bên trong là 0,400 gam ma tuý Methamphetamine hoàn lại theo kết luận giám định số 27/KL-KTHS ngày 03/01/2024).
- 01 (một) phong bì dán kín niêm phong bằng dấu của Công an xã N, L, Bắc Giang và Phòng K- Công an tỉnh B, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “QT7” (bên trong không chứa gì theo kết luận giám định số 27/KL-KTHS ngày 03/01/2024).
- 01 (một) phong bì dán niêm phong bằng dấu của Phòng K- Công an tỉnh B và V, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “Vỏ, bao gói hoàn lại của QT2”, “HT02.24-1”.
- 01 (một) phong bì dán niêm phong bằng dấu của Phòng K- Công an tỉnh B và V, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “Vỏ, bao gói hoàn lại của QT3”, “HT02.24-2”.
- 01 (một) phong bì dán niêm phong bằng dấu của Phòng K- Công an tỉnh B và V, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “Vỏ, bao gói hoàn lại của QT4”, “HT02.24-3”.
- 01 (một) phong bì dán niêm phong bằng dấu của Phòng K- Công an tỉnh B và V, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “Vỏ, bao gói hoàn lại của QT5”, “HT02.24-4”.
- 01 (một) phong bì dán niêm phong bằng dấu của Phòng K- Công an tỉnh B và V, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “Vỏ, bao gói hoàn lại của QT6”, “HT02.24-5”.
- 01 (một) phong bì dán niêm phong bằng dấu của Phòng K- Công an tỉnh B và V, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “Vỏ, bao gói hoàn lại của QT7”, “HT02.24-6”.
- 01 (một) lọ nhựa màu trắng được quấn bên ngoài bằng băng dính màu đen, có nắp đậy bằng nhựa màu trắng, bên trong lọ không đựng gì.
- 03 (ba) đoạn ống nhựa màu vàng một đầu hàn kín, một đầu hở, bên trong cả 03 đoạn đều không đựng gì.
- 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng- xanh lá cây, một đầu hàn kín, một đầu được cắt vát, bên trong không đựng gì.
- 03 (ba) đoạn ống nhựa gồm 01 đoạn màu trắng, 01 đoạn màu tím, 01 đoạn màu trắng- đỏ, bên trong cả 03 đoạn đều không đựng gì.
- 02 (hai) đoạn ống nhựa màu trắng- xanh da trời, bên trong cả hai đoạn đều không đựng gì.
- 01 (một) chiếc kéo bằng kim loại màu trắng.
- 01 (một) chiếc kẹp gắp bằng kim loại màu trắng.
- 01 (một) chiếc bật lửa ga màu đỏ.
- 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa, bên trong túi có nhiều túi nilon nhỏ màu trắng, một đầu của mỗi túi đều có rãnh khoá nhựa và viền màu đỏ, bên trong các túi nilon đều không đựng gì.
- 01 (một) hộp giấy màu đen, trên hộp có chữ “VIÊN KHỚP” cùng nhiều chữ và số khác, bên trong hộp đựng một số đồ vật như: các mảnh giấy màu trắng; các đoạn ống nhựa gồm nhiều màu đều không đựng gì; bật lửa ga; các túi nilon một đầu của mỗi túi đều có rãnh khoá nhựa bên trong đều không đựng gì; dao tem; tăm nhựa.
- 01 (một) chiếc cân điện tử màu trắng có nắp đậy bằng nhựa màu trắng.
- 01 (một) túi nilon màu đỏ.
- 01 (một) chiếc kéo kẹp bằng kim loại màu trắng;
- 01 (một) chiếc kéo bằng kim loại màu trắng có phần tay cầm bằng nhựa màu nâu;
- 01 (một) cuộn băng dính màu đen;
- 01 (một) dao tem nhãn hiệu “LORD” đã qua sử dụng;
- 02 (hai) mảnh giấy màu trắng;
- 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có 03 (ba) chiếc xilanh nhựa loại 3ml/cc và 03 (ba) ống nước cất đều chưa qua sử dụng.
- Trả lại bị cáo gồm: 01 (một) căn cước công dân số “[...]” mang tên Bùi Văn T, 01 (một) chiếc điện thoại di động iPhone màu đỏ có ốp lưng bằng nhựa màu đỏ, máy cũ đã qua sử dụng, số IMEI: 353012096275944 và 01 (một) chiếc điện thoại di động NOKIA màu đen, máy cũ đã qua sử dụng, số sê ri 1: 356107165006969;
Tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ 02 chiếc điện thoại để đảm bảo thi hành án.
- Tịch thu sung vào công quỹ số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) đựng trong 01 (một) phong bì dán kín niêm phong có ký hiệu “Tiền thu giữ khi bắt quả tang Bùi Văn T”, có số seri ZQ20270529, theo biên bản niêm phong ngày 28/12/2023 của Công an huyện L).
(Đặc điểm vật chứng của vụ án theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang ngày 04/4/2024).
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa biết, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thân Hồng Giang |
Bản án số 37/2024/HSST ngày 08/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 37/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
