TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2024/DS-ST
Ngày: 07-5-2024
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đậu Thị Loan.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Thanh Cần;
Ông Nguyễn Văn Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Giàu - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 278/2023/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 32/2024/QÐST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B); địa chỉ: T, số A, đường T, phường L, Quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy P, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số C, đường số H, Tổ F, Khu E, khu dân cư H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo uỷ quyền. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Mạc Ngọc T, sinh năm 1973; nơi cư trú: Khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: Đường P, khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt lần thứ 2 không lý do.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Mạc Văn T1, sinh năm 1951; nơi cư trú: Khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: Đường P, khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt lần thứ 2 không lý do.
- Bà Lê Thị S, sinh năm 1955; nơi cư trú: Khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: Đường P, khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt lần thứ 2 không lý do.
- Bà Mạc Ngọc H, sinh năm 1986; nơi cư trú: Khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: Đường P, khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt lần thứ 2 không lý do.
- Bà Mạc Ngọc T2, sinh năm 1976; nơi cư trú: Khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: Đường P, khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt lần thứ 2 không lý do.
- Ông Phạm Quốc C, sinh năm 1968; nơi cư trú: Số A (K, Tổ 59 cũ), đường H, Tổ E, Khu D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt lần thứ 2 không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 12 năm 2022, quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Duy P trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B) có ký với bà Mạc Ngọc T 01 hợp đồng tín dụng số 247/2020/10722990/HĐTD ngày 08/5/202 với nội dung:
Số tiền cho vay: 19.000.000.000 đồng;
Mục đích sử dụng vốn vay: Thanh toán chi phí nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
Thời hạn vay: 240 tháng.
Thực hiện hợp đồng tín dụng thì nguyên đơn đã giải ngân cho bị đơn với tổng số tiền là 19.000.000.000 đồng, theo: Bảng kê rút vốn (Lần 1) số 247.01/2020/10722990/HĐTD ngày 11/5/202số tiền 9.000.000.000 đồng; Bảng kê rút vốn (Lần 1) số 247.02/2020/10722990/HĐTD ngày 11/5/202số tiền 10.000.000.000 đồng. Lãi suất cho vay trong hạn là 11.5%/năm cố định trong 12 tháng đầu. Sau thời gian trên, áp dụng lãi suất cho vay thông thường theo quy định của B từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn theo quy định tại Hợp đồng tín dụng theo món. Lịch trả nợ gốc là ngày 15 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 15/6/2020, số tiền trả nợ gốc các kỳ là 79.170.000 đồng/kỳ, riêng kỳ cuối là 78.370.000 đồng/kỳ. Lịch trả nợ lãi định kỳ hàng tháng cùng ngày với trả nợ gốc.
bảo đảm khoản vay trên thì Hộ ông Mạc Ngọc T3 gồm ông Mạc Văn T1, bà Lê Thị S, bà Mạc Ngọc H, bà Mạc Ngọc T2, bà Mạc Ngọc T đã thế chấp cho nguyên đơn tài sản: Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 263, tờ bản đồ số 5, tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL808530, Số vào sổ cấp GCN: CS03750 cho Hộ ông Mạc Ngọc T3 vào ngày 16/01/2018. Theo hợp đồng thế chấp tài sản số 117/2020/9586708/HĐBĐ, được công chứng vào ngày 08/5/2020 tại Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi Nhánh Văn phòng Đ1 (Nay là thành phố) Tân Uyên ngày 08/5/2020.
Bà Mạc Ngọc T2, ông Phạm Quốc C đã thế chấp cho nguyên đơn tài sản: Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 537, tờ bản đồ số 17, tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB079156, Số vào sổ cấp GCN: CS02528 cho bà Mạc Ngọc T2 vào ngày 05/01/2018. Theo hợp đồng thế chấp tài sản số 118/2020/92479/HĐBĐ, được công chứng vào ngày 14/5/2020 tại Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi Nhánh Văn phòng Đ1 (Nay là thành phố) Tân Uyên ngày 14/5/2020
Trong quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền gốc và lãi đối với hợp đồng tín dụng trên. Do đó, nguyên đơn đã chuyển khoản vay sang nợ quá hạn theo quy định. Tạm tính đến hết ngày 26/12/2022, bị đơn còn nợ nguyên đơn theo hợp đồng tín dụng đã ký với số tiền là: 20.508.906.481 đồng, bao gồm: Tiền nợ gốc là 17.812.450.000 đồng và tiền lãi 2.696.456.481 đồng.
Do đó, Nguyên đơn khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết:
- Buộc bà Mạc Ngọc T phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B) số tiền 20.508.906.481 đồng, bao gồm: Tiền nợ gốc là 17.812.450.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 26/12/2022 là 2.696.456.481 đồng.
- Bà Mạc Ngọc T còn phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B) số tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 247/2020/10722900/HĐTD ngày 08/5/2020 tính từ ngày 27/12/2022 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
- Trường hợp bên vay không trả được nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B) có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi và xử lý toàn bộ tài sản bảo đảm của bên thế chấp (Hộ ông Mạc Văn T1, Bà Mạc Ngọc T2, Ông Phạm Quốc C) để trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B).
Tại phiên tòa:
- - Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, về số tiền vay có thay đổi như sau: Yêu cầu bị đơn bà Mạc Ngọc T thanh toán số tiền tính đến ngày 07/5/2024 là 23.759.152.101 đồng, bao gồm: Tiền nợ gốc là 17.812.450.000 đồng, tiền lãi phạt cho tiền gốc quá hạn là 154.642.134 đồng, lãi phạt chậm trả lãi là 319.798.770 đồng. Kể từ ngày 08/5/2024, bị đơn còn phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B) số tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng tính cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Đồng thời cung cấp thêm biên bản làm việc giữa nguyên đơn và bị đơn về việc bị đơn xác nhận số nợ như trên.
- - Vị đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét xử sơ thẩm.
Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được công bố tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B) về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn bà Mạc Ngọc T.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng tín dụng. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án về tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị đơn bà Mạc Ngọc T, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mạc Văn T1, bà Lê Thị S, bà Mạc Ngọc H, bà Mạc Ngọc T2, ông Phạm Quốc C đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.3] Tại thửa đất số 263, tờ bản đồ số 5, tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương được ký hợp đồng thế chấp với nguyên đơn có 01 khu nhà trọ cho thuê của bà Mạc Ngọc T. Tuy nhiên qua xác minh tại địa phương thì những người ở trọ tại đây chưa đăng ký tạm trú nên không có thông tin, khi Toà án đến làm việc thì không gặp những người này. Do đó, không thể xác định nhân thân, lai lịch và đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về yêu cầu thanh toán nợ: Xét thấy, ngày 08/5/2020, nguyên đơn và bị đơn ký kết Hợp đồng tín dụng số 247/2020/10722990/HĐTD vay số tiền 19.000.000.000 đồng. Hợp đồng tín dụng nêu trên giữa hai bên thể hiện ý chí thỏa thuận tự nguyện của hai bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện.
Thực hiện hợp đồng, Nguyên đơn đã giải ngân tổng số tiền 19.000.000.000 đồng cho bị đơn theo Bảng kê rút vốn (Lần 1) số 247.01/2020/10722990/HĐTD ngày 11/5/202số tiền 9.000.000.000 đồng; Bảng kê rút vốn (Lần 1) số 247.02/2020/10722990/HĐTD ngày 14/5/202số tiền 10.000.000.000 đồng. Tại 02 Bảng kê rút vốn đều quy định rõ về thời hạn vay, thời hạn thanh toán tiền gốc, lãi hàng tháng và lãi suất cụ thể. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng trên, bị đơn chỉ thanh toán cho nguyên đơn số tiền 3.870.770.416 đồng, gồm; tiền gốc là 1.187.550.000 đồng, tiền lãi là 2.683.220.416 đồng. Sau đó bị đơn không tiếp tục trả nợ gốc, lãi cho nguyên đơn là vi phạm nội dung thỏa thuận trong hợp đồng. Tính đến ngày 07/5/2024, bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 23.759.152.101 đồng, bao gồm: Tiền nợ gốc là 17.812.450.000 đồng, tiền lãi phạt cho tiền gốc quá hạn là 154.642.134 đồng, lãi phạt chậm trả lãi là 319.798.770 đồng. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng là có cơ sở. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc đã thanh toán toàn bộ nợ gốc, lãi cho nguyên đơn. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tổng số tiền tính đến ngày 07/5/2024 là 23.759.152.101 đồng và yêu cầu tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng tính từ ngày 08/5/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ là có cơ sở theo quy định tại Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng.
[2.2] Về yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm:
Để bảo đảm khoản vay trên cho bị đơn, thì giữa nguyên đơn với bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã ký các hợp đồng thế chấp sau:
Hợp đồng thế chấp tài sản số 117/2020/9586708/HĐBĐ ngày 08/5/2020 giữa Nguyên đơn và bà Mạc Ngọc T, ông Mạc Văn T1, bà Lê Thị S, bà Mạc Ngọc H, bà Mạc Ngọc T2, tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 263, tờ bản đồ số 5, tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL808530, Số vào sổ cấp GCN: CS03750 cho Hộ ông Mạc Ngọc T3 vào ngày 16/01/2018. Hợp đồng thế chấp được công chứng vào ngày 08/5/2020 tại Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi Nhánh Văn phòng Đ1 (Nay là thành phố) Tân Uyên ngày 08/5/2020.
Hợp đồng thế chấp tài sản số 118/2020/92479/HĐBĐ ngày 14/5/2020 giữa nguyên đơn và bà Mạc Ngọc T2, ông Ngô Chí Q, tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 537, tờ bản đồ số 17, tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB079156, Số vào sổ cấp GCN: CS02528 cho bà Mạc Ngọc T2 vào ngày 05/01/2018. Hợp đồng thế chấp được công chứng vào ngày 14/5/2020 tại Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi Nhánh Văn phòng Đ1 (Nay là thành phố) Tân Uyên ngày 14/5/2020
Mục đích để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bị đơn, bao gồm cả tài sản trên đất.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 23/8/2023 thể hiện:
Thửa đất số 263, tờ bản đồ số 5, tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương có các tài sản như sau: 01 căn nhà cấp 4 của bà Mạc Ngọc H có kết cấu tường gạch xây tô, nền gạch men, mái tôn có diện tích xây dựng là 147.3m²; 01 căn nhà 01 trệt, 01 lầu của ông Mạc Ngọc T3 và bà Lê Thị S có kết cấu tường gạch xây tô, nền gạch men, mái ngói có diện tích 147.3m²; 01 căn nhà 01 trệt, 01 lầu của bà Mạc Ngọc T có kết cấu tường gạch xây tô, nền gạch men, mái ngói có diện tích 90.4m²; 01 khu nhà trọ cho thuê của bà Mạc Ngọc T có kết cấu tường gạch xây tô, nền gạch men, mái ngói có diện tích 242.8m²; 01 khu nhà nghỉ của ông Mạc Ngọc T3 có kết cấu tường gạch xây tô, nền gạch men, mái ngói có diện tích 286.9m²; Mái che có diện tích 53m²; 01 cây lộc vừng, 01 cây dừa, 01 cây mít, 01 cây sakê, 02 cây sung.
Thửa đất số 537, tờ bản đồ số 17, tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương có các tài sản như sau: 50 cây bưởi, 14 cây dừa, 01 cây nhãn, 02 cây xoài, 03 cây mít, 04 cây cau.
Đối với các tài sản trên đất mặc dù không được thể hiện cụ thể tại các hợp đồng thế chấp. Tuy nhiên tại Điều 3. Giá trị tài sản thế chấp có nội dung “Các vật phụ, trang thiết bị, tài sản đầu tư, lắp đặt thêm cho và/hoặc gắn liền với tài sản thế chấp đều thuộc tài sản thế chấp. Mọi tài sản gắn liền và/hoặc phục vụ cho việc vận hành, khai thác, sử dụng tài sản thế chấp trước và trong quá trình xử lý tài sản thế chấp đều thuộc tài sản thế chấp và Ngân hàng được quyền xử lý, cho dù tài sản đó tồn tại trước hay sau thời điểm ký hợp đồng này…”. Do đó, các tài sản gắn liền với đất đối với 02 quyền sử dụng đất thế chấp đều thuộc tài sản thế chấp.
Việc ký 02 hợp đồng thế chấp nêu trên thể hiện ý chí thỏa thuận tự nguyện của các hai bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội, hợp đồng đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật nên hợp pháp và có hiệu lực thi hành đối với các bên.
Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là phù hợp.
[3] Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp nên chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc là: 14.000.000 đồng. Bị đơn phải chịu số tiền này để hoàn trả cho nguyên đơn.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị đơn phải chịu án phí đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 155; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 463; Điều 466 của Bộ luật Dân sự;
- Điều 91; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng;
- Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B) đối với bị đơn bà Mạc Ngọc T về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
- - Buộc bà Mạc Ngọc T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B) tổng số tiền tính đến ngày 07/5/2024 là 23.759.152.101 đồng (Hai mươi ba tỷ bảy trăm năm mươi chín triệu một trăm năm mươi hai nghìn một trăm lẻ một đồng), bao gồm: Tiền nợ gốc là 17.812.450.000 đồng, tiền lãi phạt cho tiền gốc quá hạn là 154.642.134 đồng, lãi phạt chậm trả lãi là 319.798.770 đồng.
- - Bà Mạc Ngọc T còn phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B) số tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B) ngày 08/5/2020tính từ ngày 08/5/2024 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
- - Trường hợp bà Mạc Ngọc T không trả được nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B) có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi và xử lý toàn bộ tài sản bảo đảm để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký, gồm:
- + Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 263, tờ bản đồ số 5, tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL808530, Số vào sổ cấp GCN: CS03750 cho Hộ ông Mạc Ngọc T3 vào ngày 16/01/2018 và các tài sản trên đất gồm: 01 căn nhà cấp 4 của bà Mạc Ngọc H có kết cấu tường gạch xây tô, nền gạch men, mái tôn; 01 căn nhà 01 trệt, 01 lầu của ông Mạc Ngọc T3 và bà Lê Thị S có kết cấu tường gạch xây tô, nền gạch men, mái ngói; 01 căn nhà 01 trệt, 01 lầu của bà Mạc Ngọc T có kết cấu tường gạch xây tô, nền gạch men, mái ngói; 01 khu nhà trọ cho thuê của bà Mạc Ngọc T có kết cấu tường gạch xây tô, nền gạch men, mái ngói; 01 khu nhà nghỉ của ông Mạc Ngọc T3 có kết cấu tường gạch xây tô, nền gạch men, mái ngói; 02 mái che; 01 cây lộc vừng, 01 cây dừa, 01 cây mít, 01 cây sakê, 02 cây sung. Theo hợp đồng thế chấp bất động sản số 117/2020/9586708/HĐBĐ ngày 08/5/2020.
- + Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 537, tờ bản đồ số 17, tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB079156, Số vào sổ cấp GCN: CS02528 cho bà Mạc Ngọc T2 vào ngày 05/01/2018 và các tài sản trên đất gồm: 50 cây bưởi, 14 cây dừa, 01 cây nhãn, 02 cây xoài, 03 cây mít, 04 cây cau. Theo hợp đồng thế chấp bất động sản số 118/2020/92479/HĐBĐ ngày 14/5/2020.
- Về chi phí tố tụng: Bà Mạc Ngọc T phải nộp số tiền 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng) là chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc để hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B) .
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Mạc Ngọc T phải chịu số tiền 131.759.152 đồng (Một trăm ba mươi mốt triệu bảy trăm năm mươi chín nghìn một trăm năm mươi hai đồng).
- Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B) số tiền 64.254.453 đồng (Sáu mươi bốn triệu hai trăm năm mươi bốn nghìn bốn trăm năm mươi ba đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001701 ngày 08/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đậu Thị L |
Bản án số 37/2024/DS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 37/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐTD giữa Ngân hàng BIDV và Mạc Ngọc T
