Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày 07-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Mai Thị Duyên

Ông Nguyễn Văn Thiện

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hải Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tường - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận HảiKiÕn An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Đỗ Văn H, sinh ngày 15/9/1966 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Số E đường Đ, phường L, quận N, thành phố H ở hiện nay: Khu C, TDP số F, phường T, quận H, T: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn C bà Nguyễn Thị T(đã chết); bị cáo có vợ là Phan Thị M(đã ly hôn) có 02 con, con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/01/2024; có mặt.

Bị hại: Công ty Cổ phần M2 chỉ trụ sở: Số F, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê T1 T1chức vụ: Giám đốc; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn B năm 1958; địa chỉ: Số F đường L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2018, Đỗ Văn H mượn khu nhà của anh Vũ Đức L, sinh năm 1974, ĐKHKTT: phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng tại khu C, TDP số F, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng để ở. Tiếp giáp với khu nhà H1 là khu đất của ông Phạm Văn B1, sinh năm 1958, địa chỉ: số F đường L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; trên khu đất này, ông B2 để 02 phương tiện thuỷ nội địa M1 D01 và Minh D (xuồng máy). Quá trình sinh sống tại đây, do muốn thoáng mát và giảm bớt côn trùng; nên khoảng 15 giờ ngày 11/7/2023, H2 bật lửa châm trực tiếp vào phần cỏ khô dưới gốc cây cỏ tranh. Khi đám cỏ đã cháy thì H3 tục dùng 01 đoạn thân cây (dài 34cm, đường kính 2,15cm) gẩy tơi đám cỏ, mục đích cho dễ cháy và để đám cháy rễ ràng lan sang các cây cỏ tranh khác. Cứ như vậy, H3 tục dùng đoạn thân cây trên gẩy tơi đám cỏ cho đến khi đám cháy lan rộng khoảng 03m² thì dừng lại và ngồi trông. Ngồi trông đến khoảng 16 giờ cùng ngày, H4 thấy đám cháy đã tự tắt nên H5 vào nhà, tắm, ăn cơm, sau đó H5 ra ngoài có việc cá nhân. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, H6 về nhà ở khu vực cây xanh Đ, TDP số F, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng thì thấy 02 xuồng máy của ông Phạm Văn B1 đang bị cháy. Hđã cùng người dân chữa cháy, đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày đám cháy đã được dập tắt hoàn toàn. Hậu quả của vụ cháy đã gây thiệt hại cho 02 xuồng máy Minh D và M3.

Kết quả khám nghiệm hiện trường, thể hiện: Nơi xảy ra vụ cháy nằm trong khuôn viên mảnh đất trống của gia đình ông Phạm Văn B1 ở khu cây xanh Đ, TDP số F, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng Trên mảnh đất này có 02 xuồng máy đặt gần nhau và gần song song nhau; chiếc xuồng to mang tên Minh D, số hiệu HP-4097, kích thước: (7,45 x 2,27 x 1,25 x 0,5)m, chiếc xuồng nhỏ mang tên Minh D, số hiệu HP-4554, kích thước: (6,62 x 2,30 x 0,65 x 0,375)m. Cả 02 xuồng máy trên bị cháy trơ khung kim loại, các máy của xuồng cũng bị cháy trơ khung, các vật dụng ở trên cả hai xuồng máy đều cháy rụi trơ khung kim loại; trên mặt các xuồng máy có nhiều tàn than tro và bên trong có nhiều nước do quá trình chữa cháy. Phần khung ở giữa của các xuồng bị tác động nhiệt làm cong vênh biến dạng, lớp sơn tại khu vực này bị nhiệt tác động làm bong tróc, để lộ khung thân bằng kim loại bị biến đổi màu sắc, mức độ than hóa của sản phẩm cháy và mức độ tác động nhiệt có chiều hướng từ T2sang Đtừ Bắc về NCỏ tranh mọc bên ngoài xung quanh vị trí đặt hai xuồng máy bị cháy rụi gần như hoàn toàn, để lộ đất trồng, phía trên phủ tàn than tro, đường biên vùng cháy mở rộng về các phía, chủ yếu rộng và mạnh ở phía Nam và phía Đông, đặc biệt là phía Đông, mức độ và diện tích cỏ tranh bị cháy nhiều hơn các phía còn lại. Diện tích cỏ tranh bị cháy khoảng 1.500m².

Tiếp giáp ở phía Tây mảnh đất của ông Phạm Văn B3 mảnh đất của anh Vũ Đức L1 Đỗ Văn H7 coi, quản lý; hiện có đám cỏ tranh mọc trên đống đất, bị cháy rụi trợ gốc, kích thước (4,1m x 3,6m), lá cỏ xung quanh bị tác động nhiệt khô héo, đống đất này cao trên mặt nền mảnh đất 0,55m, cách tường bao phía Bắc 4,15m, cách vị trí xuồng máy Minh Dương 03 khoảng 20m về phía Tây. Cách đường biên vùng cháy có để 02 phương tiện thủy nội địa 5,4m. Quá trình khám nghiệm thu giữ

02 mẫu tàn than tro; 01 đoạn thân cây, dài 34 cm, đường kính 2,15 cm.

Tại Kết luận giám định số 83/KL-KTHS ngày 19/7/2023 của Phòng K, Công an thành phố H12, kết luận: Vùng cháy đầu tiên là gò đất có diện tích (4,1m x 3,6m) nằm trên mảnh đất của anh Vũ Đức L2 đất này cao trên mặt nền 0,55m; cách tường bao phía Bắc ngôi nhà tạm của anh Vũ Đức L3, cách vị trí xuồng máy “Minh Dương 03” về phía Tây 20m. Nguyên nhân gây cháy là do tác động của con người làm cháy đám cỏ tại gò đất nói trên, rồi cháy lan ra những đám cỏ khác tại khu vực tiếp giáp và bắt cháy vào 02 phương tiện thuỷ nội địa. Mẫu thu khi khám nghiệm hiện trường đã phân tích hết, không hoàn lại.

Tại Kết luận giám định số 1084/KL-KTHS ngày 19/10/2023 của Phòng K, Công an thành phố H12, kết luận: Không tiếp cận được vị trí đóng số máy do cả hai phương tiện thuỷ nội địa Minh D và M3 bị hư hỏng sau khi cháy.

Tại Công văn số 222 ngày 29/8/2023 của Trung tâm quản lý, bảo trì giao thông công cộng và đăng kiểm thủy - Sở G H, trả lời: Phương tiện Msố đăng ký HP-4097 và M2số đăng ký HP-4554 đều mang tên chủ phương tiện là Công ty Cổ phần M4.

Tại Kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐGTS ngày 31/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận H, thành phố Hải Phòng, kết luận: Tổng giá trị ước tính của 02 tài sản là tàu Minh Dương 01 và M03 tại thời điểm tháng 7/2023 là: 459.615.417 đồng (làm tròn số 459.615.000 đồng).

Quá trình điều tra, Đỗ Văn H8 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên. Ngoài ra, H9 khai: Đám cỏ tranh mọc trên đống đất bị cháy rụi trơ gốc, kích thước (4,1m x 3,6m), lá cỏ xung quanh bị tác động nhiệt khô héo, đống đất này cao trên mặt nền mảnh đất 0,55m (nằm trên mảnh đất của anh Vũ Đức L). Đây chính là vị trí H8 dùng lửa đốt cỏ tranh vào khoảng 15 giờ ngày 11/7/2023. Lời khai của Đỗ Văn H, phù hợp với lời khai của người có liên quan, lời khai của những người làm chứng; Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường; Kết luận giám định về nguyên nhân cháy và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng và các tài liệu tạm giữ: Đối với 01 tàu Minh Dương 01; 01 tàu Minh Dương 03; 01 Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện thủy nội địa số 3806/ĐK; 01 Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện thủy nội địa số 4259/ĐK; 01 Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện thủy nội địa số 02680/17V15; 01 Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện thủy nội địa số 01490/17V15. Ngày 06/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H12 đã trả lại cho đại diện chủ sở hữu là ông Phạm Văn B1.

Về trách nhiệm dân sự: Đỗ Văn H10 bồi thường cho bị hại. Bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 28/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã truy tố Đỗ Văn H về tội "Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 180 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu là đúng, xin lỗi bị hại và đề nghị bị hại xem xét hoàn cảnh kinh tế của bị cáo để giảm mức bồi thường thiệt hại, bị cáo sẽ có trách nhiệm trả dần khoản tiền này.

Tại phiên tòa, đại diện bị hại cũng chia sẻ hoàn cảnh kinh tế của bị cáo nên bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng. Bị hại không có ý kiến gì về tội danh và hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố. Ngoài ra bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào khác. Bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên Đỗ Văn H phạm tội Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51. Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 180, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36, Bộ luật Hình sự xử phạt Đỗ Văn H từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 100.000.000 đồng, ngoài ra bị hại không yêu cầu bồi thường khoản tiền nào khác. Bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 100.000.000đồng. Chấp nhận sự thảo thuận này của bị cáo và bị hại, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, phần nói lời sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin lỗi bị hại vì sự cầu thả của mình mà đã gây nên thiệt hại về tài sản cho bị hại, bị cáo rất ăn năn, hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa,

các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 15 giờ ngày 11/7/2023, Đỗ Văn H đã dùng bật lửa đốt cỏ tranh tại gò đất có diện tích (4,1x3,6)m trước cửa nhà Hđang ở thuộc khu C, TDP số 6, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng với mục đích cho thoáng mát và giảm bớt côn trùng. Bị cáo đã quá tự tin cho rằng đám cháy đã tự tắt hoàn toàn nên đã qua lại nhà để tắm, ăn cơm và rời khỏi nhà. Sau đó, đám cháy đã lan sang mảnh đất bên cạnh của ông Phạm Văn B1 và bắt cháy vào 02 phương tiện tàu thuỷ nội địa Minh D01 và Minh Dương 03 của Công ty Cổ phần M4. Hậu quả của vụ cháy đã gây thiệt hại cho 02 xuồng máy với số tiền là 459.615.000 đồng. Hành vi của bị cáo vô ý đã xâm phạm đến tài sản của người khác.

[3] Về lỗi của bị cáo: Khi thực hiện hành vi đốt đám cỏ tranh mục đích giảm bớt côn trùng và tạo môi trường sinh sống thoáng mát nhưng bị cáo đã cẩu thả không dập tắt hoàn toàn mà để tự tắt, sau đó đi tắm, ăn cơm và để hậu quả đã xảy ra dù không mong muốn do đó lỗi của bị cáo là lỗi vô ý.

[4] Từ những phân tích nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản quy định tại khoản 1 Điều 180 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản quy định tại khoản 1 Điều 180 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không oan sai đối với bị cáo.

- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

- Về hình phạt:

[6] Hành vi của bị cáo đã gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của người khác nhưng đây là vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, bị cáo phạm tội do vô ý. Sau khi thực hiện hành vi vô ý gây thiệt hại tài sản cho người khác, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo nhận thức được trách nhiệm và đã thoả thuận

đền bù thiệt hại cho bị hại; bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Tuy nhiên, mức độ thiệt hại đối với tài sản là lớn, vì vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự để tuyên hình phạt cải tạo không giam giữ mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo chú ý chấp hành các quy định và quy tắc an toàn trong cuộc sống.

[7] Bị cáo là người không có công việc và thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự.

- Về xử lý vật chứng:

[8] Đối với 01 tàu Minh Dương 01; 01 tàu Minh Dương 03; 01 Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện thủy nội địa số 3806/ĐK; 01 Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện thủy nội địa số 4259/ĐK; 01 Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện thủy nội địa số 02680/17V15; 01 Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện thủy nội địa số 01490/17V15. Ngày 06/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H12 đã trả lại cho chủ sở hữu là Công ty Cổ phần M1là có căn cứ.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng.

[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: 100.000.000 đồng x 5% = 5.000.000 đồng theo quy định pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 180, Điều 36, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H11 tội Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn H 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an quận H được quyết định Thi hành án. Giao bị cáo Đỗ Văn H cho Ủy ban nhân dân phường T2, quận H, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Đỗ Văn H có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T2, quận H, thành phố Hải Phòng trong việc giám sát giáo dục đối với bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án cải tạo không giam giữ vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 100 Luật Thi hành án hình sự như sau:

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Căn cứ khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo phải trả cho bị hại là Công ty Cổ phần M1số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Đỗ Văn H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Bị cáo, bị hại quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - CQĐT - Công an quận Hải An;
  • - Phòng PV 06 - Công an TP Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS quận Hải An;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hằng

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thiện

Mai Thị Duyên

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger