Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỚN QUẢN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07 – 5 – 2024

V/v “Ly hôn”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Thủy

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Nhị Hường

2. Bà Phạm Thị Thanh Hương

Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Quyền Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xét xử sơ thẩm, công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 232/2023/TLST – HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 17/4/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Đặng Thị T, sinh năm 1996; Địa chỉ: Tổ G, khu phố C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước (Có yêu cầu vắng mặt)
  • - Bị đơn: Ông Đậu Cao T1, Sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ G, khu phố C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước (Có yêu cầu vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Đặng Thị T trình bày:

Bà Đặng Thị T và ông Đậu Cao T1 tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận kết hôn số 84 ngày 01/8/2016. Bà Đặng Thị T và ông Đậu Cao T1 chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên thường xảy ra tranh cãi. Ông T1 còn có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác, khi về nhà hay kiếm cớ đánh đập bà T. Đến nay bà T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T1.

Trong thời gian chung sống ông bà có 02 con chung gồm Đậu Thị Ngọc H, sinh ngày 27/01/2017; Đậu Thị Ngọc N, sinh ngày 17/10/2021. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai con chung và yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con Đậu Thị Ngọc H mỗi tháng 2.500.000đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Tại đơn khởi kiện bà T yêu cầu chia đôi tài sản chung của bà và ông T1 là thửa đất 479 tờ bản đồ 60 có diện tích 1483,8m² tại khu phố C, thị trấn T có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Đậu Cao T1 và bà Đặng Thị T (đồng sở hữu 1/3 với ông Mai Văn H1, bà Bùi Thị T2, ông Nguyễn Hữu C, bà Tạ Thị P), trên đất có 01 căn nhà cấp 4 và một số tài sản vật dụng trong nhà. Yêu cầu này đã được Tòa án thụ lý. Tuy nhiên, ngày 02/4/2024 bà T đã có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu chia tài sản chung do hai đương sự đã tự thỏa thuận được với nhau.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Đậu Cao T1 trình bày:

Ông T1 và bà T tự nguyện tìm hiểu, sau đó kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận kết hôn số 84 ngày 01/8/2016. Ông T1 xác định vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2021, do bất đồng quan điểm nên thường xuyên cãi nhau dẫn đến không còn yêu thương, tôn trọng nhau. Từ tháng 6/2023 thì vợ chồng không còn chung sống. Do mâu thuẫn đã trầm trọng nên ông T1 đồng ý ly hôn với bà T.

Đối với 02 con chung, gồm Đậu Thị Ngọc H, sinh ngày 27/01/2017; Đậu Thị Ngọc N, sinh ngày 17/10/2021. Ông T1 yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Đậu Thị Ngọc N, giao con chung Đậu Thị Ngọc H cho bà T nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Hai đương sự đã tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi, nhận đơn, thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Bà T yêu cầu ly hôn, ông T1 đồng ý ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà T và ông T1 ly hôn. Về con chung: Con chung Đậu Thị Ngọc H, sinh ngày 27/01/2017 có nguyện vọng ở với mẹ nên đề nghị giao cho mẹ; Đậu Thị Ngọc N, sinh ngày 17/10/2021 dưới 36 tháng tuổi, đang do bà T nuôi dưỡng nên đề nghị tiếp tục giao cho bà T. Ông T1 có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con Đậu Thị Ngọc H mỗi tháng 2.500.000đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung hai đương sự đã tự thỏa thuận, nguyên đơn rút yêu cầu chia tài sản chung nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với phần tài sản. Nợ chung không có nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Đặng Thị T yêu cầu ly hôn với ông Đậu Cao T1, bị đơn có nơi cư trú tại huyện H, nên đây là vụ án Ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị T và ông Đậu Cao T1 tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Quá trình giải quyết vụ án, bà T, ông T1 cùng xác định vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn nên thống nhất yêu cầu Tòa án cho ly hôn. Nhận thấy, do cả hai đương sự cùng xác định vợ chồng đã không còn tình cám, không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện cho bà T ly hôn với ông T1.

[3] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:

Trong thời gian chung sống ông bà có 02 con chung gồm Đậu Thị Ngọc H, sinh ngày 27/01/2017; Đậu Thị Ngọc N, sinh ngày 17/10/2021. Nguyên đơn bà Đặng Thị T yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai con chung Đậu Thị Ngọc H và Đậu Thị Ngọc N. Đồng thời, bà T yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con Đậu Thị Ngọc H mỗi tháng 2.500.000đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Đậu Cao T1 đưa ra yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Đậu Thị Ngọc N, giao con chung Đậu Thị Ngọc H cho bà T nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Do hai đương sự có tranh chấp về con chung nên Hội đồng xét xử nhận định như sau: Xét về điều kiện nuôi con, trên cơ sở tài liệu sao kê tài khoản ngân hàng cho thấy cả ông T1 và bà T đều có công việc ổn định và có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con. Tại biên bản ghi ý kiến con chung thì cháu Đậu Thị Ngọc H, sinh ngày 27/01/2017, đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng được ở với mẹ. Còn con chung Đậu Thị Ngọc N, sinh ngày 17/10/2021 chưa đủ 36 tháng tuổi. Yêu cầu của bà T phù hợp với nguyện vọng con chung và quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao Đậu Thị Ngọc H và Đậu Thị Ngọc N cháu H cho bà T trục tiếp nuôi dưỡng.

Trong thời gian hai bên sống ly thân từ tháng 6/2023 đến nay tuy ông T1 không cấp dưỡng nuôi con thì bà T vẫn chăm sóc nuôi dưỡng con đảm bảo cuộc sống và học tập. Nay Hội đồng xét xử giao cho bà T trực tiếp nuôi hai con nên ông T1 có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Về mức cấp dưỡng, bà T căn cứ nhu cầu chăm sóc nuôi dưỡng con để yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con Đậu Thị Ngọc H mỗi tháng 2.500.000đ. Mức thu nhập của ông T1 theo bảng sao kê tài khoản ngân hàng là khoảng 13-15 triệu đồng/tháng, nên mức tiền cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của bà T là phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, đảm bảo được nhu cầu thiết yếu của con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, buộc ông T1 cấp dưỡng nuôi con Đậu Thị Ngọc Hân2.500.000đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

[4] Về tài sản chung: Khi nộp đơn khởi kiện bà T yêu cầu chia đôi tài sản chung của ông bà là thửa đất 479 tờ bản đồ 60 có diện tích 1483,8m² tại khu phố C, thị trấn T có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Đậu Cao T1 và bà Đặng Thị T (đồng sở hữu 1/3 với ông Mai Văn H1, bà Bùi Thị T2, ông Nguyễn Hữu C, bà Tạ Thị P), trên đất có 01 căn nhà cấp 4. Tuy nhiên, ngày 02/4/2024 bà T đã có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu chia tài sản chung nên Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị T.

[5] Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét.

[6] Về án phí: Nguyên đơn bà Đặng Thị T phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp. Trả lại cho bà Đặng Thị T 3.750.000đ tạm ứng án phí đã nộp.

Ông Đậu Cao T1 chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q:

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị T ly hôn với ông Đậu Cao T1.
  2. Về con chung: Giao các con chung Đậu Thị Ngọc H, sinh ngày 27/01/2017; Đậu Thị Ngọc N, sinh ngày 17/10/2021 cho bà Đặng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.
  3. Ông Đậu Cao T1 có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con Đậu Thị Ngọc H, sinh ngày 27/01/2017 mỗi tháng 2.500.000đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
  4. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị T đối với yêu cầu chia tài sản chung là thửa đất 479 tờ bản đồ 60 có diện tích 1483,8m² tại khu phố C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước và tài sản trên đất.
  5. Về án phí: Nguyên đơn bà Đặng Thị T phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014778 ngày 06/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Trả lại cho bà Đặng Thị T 3.750.000₫ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014778 ngày 06/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Ông Đậu Cao T1 chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.
  6. Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Hớn Quản
  • - Các đương sư
  • - Nơi ĐKKΗ
  • - CCTHADS huyện Hớn Quản
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Thu Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn

  • Số bản án: 37/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger