|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2024/DS-PT Ngày: 06 - 6 - 2024 “V/v Tranh chấp kiện đòi tài sản” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hán Hưởng
Các thẩm phán: Ông Hoàng Tiến Dũng và ông Nguyễn Quang Vũ
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Trọng Tú - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông
Ông Trần Xuân Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 06/2024/DSPT ngày 26 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản”
Do bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DSST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ bị đơn ông Nguyễn Văn C kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 44/2024/QĐXXPT-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- 1.1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969
- Địa chỉ: Khu C, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt);
- 1.2. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1973
- Địa chỉ: Khu C, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, (vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn (văn bản ủy quyền ngày 20/10/2023): ông Nguyễn Xuân V, sinh năm 1952; nơi công tác: Công ty L1 - Đoàn luật sư tỉnh P
Địa chỉ: Số I, đường H, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (có mặt);
- Bị đơn: ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1958
Địa chỉ: Khu A, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, (có mặt);
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. ông Nguyễn Xuân C1, sinh năm 1966
- Địa chỉ: Số nhà H, tổ B, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- 3.2. Cụ Nguyễn Thị L, sinh năm 1931
- Địa chỉ: Khu A, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, (vắng mặt, ủy quyền cho ông Nguyễn Văn C);
- 3.3. Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ
- Người đại diện theo ủy quyền: ông Phạm Ngọc K, chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm phát triển Quỹ đất thành phố V (văn bản ủy quyền ngày 12/01/2024), (xin xét xử vắng mặt);
- 3.4. Ủy ban nhân dân xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Người đại diện theo ủy quyền: ông Đỗ Năng H, chức vụ: Phó Chủ tịch UBND xã T (văn bản ủy quyền ngày 13/12/2023), (xin xét xử vắng mặt);
- 3.5. Công ty cổ phần X;
- Địa chỉ: Đường N, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;
- Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Mạnh C2, sinh năm 1986;
- Địa chỉ: Khu C, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (văn bản ủy quyền ngày 28/11/2023), (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 10 năm 2023, quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của đồng Nguyên đơn ông Nguyễn Xuân V trình bày: Cụ L là mẹ đẻ của ông C, ông C1, bà T, bà T1. Hộ gia đình cụ L trực tiếp sản xuất nông nghiệp nên được nhà nước giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64/NĐ-CP năm 1993, trong đó có thửa đất số 2-10, tờ bản đồ số 13, diện tích 798m², tại khu Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (viết tắt là thửa số 2-10), được UBND thành phố V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ cụ Nguyễn Thị L ngày 08 tháng 4 năm 1999.
Tại thời điểm giao đất, hộ gia đình được giao quyền sử dụng đất nông nghiệp gồm có cụ L, ông C1, bà T, bà T1. Riêng ông C không được giao đất nông nghiệp đối với thửa đất này còn cụ Nguyễn Văn T2 (chồng cụ L) đã chết năm 1989; trước thời điểm được giao đất, do đó, đây là quyền sử dụng đất chung của 04 người trong hộ gia đình gồm cụ L, ông C1, bà T và bà T1.
Ngày 05/01/2022, UBND thành phố V ban hành Thông báo thu hồi đất đối với thửa đất số 2-10 để thực hiện dự án Khu đô thị M do Công ty cổ phần X (viết tắt là Công ty X) là chủ đầu tư. Sau đó, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố V đã phối hợp với UBND xã T và chủ đầu tư thực hiện các thủ tục điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm. Ngày 09/5/2022, UBND thành phố V ban hành Quyết định thu hồi đất và Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Sau đó, hộ cụ L được chi trả tiền bồi thường và hỗ trợ đối với thửa đất số 2-10, tổng cộng là 798.000.000 đồng (trong đó nhà nước chi trả là 307.755.164 đồng; công ty X chi trả số tiền hỗ trợ là 490.240.000 đồng).
Tuy nhiên, quá trình thu hồi đất, chi trả tiền bồi thường giải phóng mặt bằng bà T, bà T1 đều không được thông báo, không biết mặc dù bà T và bà T1 không ủy quyền cho bất cứ ai; sau này hai bà mới được ông C thông báo về việc được cụ L ủy quyền đứng ra làm các thủ tục và nhận tiền bồi thường. Biết sự việc, nhiều lần hai bà đề nghị cụ L và ông C chi trả số tiền mà theo suất hai bà được hưởng nhưng cụ L nói đã ủy quyền toàn bộ cho ông C giải quyết và nhận toàn bộ số tiền được bồi thường, nhưng khi hai bà hỏi ông C về số tiền này thì có lúc ông C thừa nhận, có lúc nói với hai bà đã chuyển toàn bộ số tiền này cho ông C1, không còn để trả tiền cho hai bà nữa nên hai bà khởi kiện Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố V đề nghị phải có trách nhiệm trả tiền bồi thường mà hai bà được theo phần nhưng nhận thấy việc chi trả của nhà nước đã đúng quy định pháp luật nên đã rút đơn khởi kiện.
Toàn bộ quyền lợi của hai bà đối với thửa đất bị thu hồi không được đảm bảo là do ông C và cụ L không trả tiền cho hai bà biết, không phải lỗi của cơ quan nhà nước và chủ đầu tư. Đến nay, về việc thu hồi đất và chi trả tiền bồi thường của UBND thành phố V và Công ty X đối với thửa đất số 2-10 là đúng, hai bà nhất trí không có ý kiến gì, không đòi bồi thường gì thêm.
Tại các cuộc họp gia đình cụ L, ông C1 và ông C đã thừa nhận toàn bộ khoản tiền bồi thường với thửa đất số 2-10 đều do ông C giữ. Việc ông C là thành viên trong gia đình nhưng không được giao đất nông nghiệp xong hiện nay ông C đang giữ số tiền bồi thường của hai bà là không đúng. Ông C chỉ được quyền quản lý, sử dụng số tiền của cụ L và ông C1 vì đã được những người này giao.
Đến nay, các nguyên đơn không đề nghị bà L phải có trách nhiệm trả số tiền bồi thường mà chỉ đề nghị Tòa án buộc ông C phải trả lại số tiền bồi thường cho hai bà theo phần mỗi người được hưởng là 199.500.000 đồng.
Đối với lời khai của ông C, ông C1 về việc đã trả cho các nguyên đơn mỗi người 40.000.000 đồng là không có thật, nên hai bà không nhất trí, nếu ông C, ông C1 chứng minh được thì các bà đồng ý khấu trừ số tiền này vào số tiền các bà khởi kiện yêu cầu ông C phải thanh toán.
Tại bản tự khai ngày 09 tháng 11 năm 2023, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông Nguyễn Văn C có quan điểm trình bày: Ông C thống nhất lời khai với các nguyên đơn về số lượng các thành viên và mối quan hệ gia đình; thời điểm bố ông chết, các thành viên hộ gia đình được giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64/NĐ-CP gồm cụ L, ông C1, bà T, bà T1. Đối với thửa đất 2-10, ông thừa nhận ông không thuộc đối tượng được giao đất nông nghiệp đối với thửa đất này nên không có quyền lợi gì. Khi nhà nước có chủ trương thu hồi đất đối với thửa 2-10, cụ L là chủ hộ nên được báo đến để đại diện hộ gia đình giải quyết việc thu hồi đất nhưng già yếu, không đi lại được và ở cùng nhà với ông nên đã ủy quyền cho ông thực hiện toàn bộ các thủ tục liên quan đến điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm và nhận tiền bồi thường đất. Ông xác nhận số tiền bồi thường, hỗ trợ đối với thửa đất ông nhận thay cụ L là 798.000.000đồng, việc chi trả tiến hành tại nhà ông, cụ L có điểm chỉ vào các văn bản chi trả tiền, còn ông trực tiếp nhận tiền bồi thường.
Sau khi nhận tiền ông chuyển đủ số tiền trên cho ông C1 (chuyển bằng tiền mặt, không có biên bản giao nhận), có sự chứng kiến của bà T, bà T1 nhưng hai bà không có ý kiến gì và đồng ý việc ông giao tiền cho ông C1. Sau đó, ba người thỏa thuận phân chia tiền bồi thường cụ thể như thế nào ông không rõ, ông C1 có nói lại với ông là chia cho bà T, bà T1 mỗi người 40.000.000 đồng, hai bà đã nhận đủ tiền, không có ý kiến gì. Đối với số tiền còn lại sau khi phân chia là 718.000.000 đồng, ông C1 đã chuyển lại toàn bộ để ông sử dụng chăm sóc, nuôi dưỡng cụ L, đến nay số tiền này ông đã chi tiêu hết.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà T, bà T1 ông không đồng ý vì hai bà không chăm sóc cụ L ngày nào và thực tế ông đã chi tiêu hết số tiền trên. Ông không có yêu cầu phản tố nhưng vẫn đề nghị các nguyên đơn phải bồi thường danh dự cho ông vì tội vu khống ông bán ruộng và tranh chấp đất đai. Đối với số tiền nuôi cụ L từ ngày 08/3/2019 đến nay ông không đề nghị giải quyết trong vụ án này.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông C cho rằng ngay sau khi ông nhận được tiền bồi thường, ông đưa toàn bộ số tiền này cho ông C1, sau đó, ông C1 đưa lại cho ông số tiền 718.000.000 đồng thì ông giao lại cho cụ L số tiền này nên ông không đồng ý khởi kiện của bà T và bà T1 đòi tiền ông.
Tại đơn đề nghị ngày 15 tháng 01 năm 2023, quá trình giải quyết vụ án, cụ Nguyễn Thị L trình bày: Toàn bộ lời khai của cụ L như lời trình bày của ông C. Cụ ở cùng ông C và ủy quyền toàn bộ cho ông C đứng ra để thực hiện các thủ tục liên quan đến thu hồi và nhận tiền bồi thường đối với thửa đất 2-10. Số tiền này ông C1 và bà T, bà T1 đã phân chia, số còn lại ông C cầm để chi tiêu chăm sóc cụ. Quan điểm của cụ nhất trí với quan điểm của ông C, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại đơn đề ngày 02 tháng 12 năm 2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Xuân C1 trình bày: Ông là người đứng ra chia tiền theo đúng với giá ban đầu đền bù giải tỏa là 67.000.000 đồng/1 sào, tương ứng là 160.000.000 đồng (thửa 2-10). Số tiền này ông đã chia làm 4 phần, hai bà T, T1 đã lấy đủ phần mỗi người là 40.000.000 đồng, phần còn lại ông đã giao toàn bộ cho ông C để chăm sóc, nuôi dưỡng cụ L. Ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn và đề nghị xét xử vắng mặt.
Tại bản tự khai ngày 12 tháng 01 năm 2024 Ủy ban nhân dân thành phố V trình bày: Hộ cụ Nguyễn Thị L có thửa đất số 2-10, tờ bản đồ số 13, diện tích 798m² có vị trí trong chỉ giới thu hồi để thực hiện dự án Khu đô thị M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Ngày 05/01/2022, UBND thành phố V đã ban hành thông báo thu hồi đất số 19/TB-UBND đối với thửa đất trên, sau đó đã tiến hành các thủ tục điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm và tiến hành chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất. Tại thời điểm đó, ông C được cụ L ủy quyền đứng ra thay cụ thực hiện toàn bộ các thủ tục có liên quan đến việc thu hồi thửa đất 2-10. Kinh phí bồi thường đối với thửa đất này đã được phê duyệt tại Quyết định số 1673/QĐ-UBND ngày 09/5/2022 của UBND thành phố V là 307.755.164 đồng. Ngoài số tiền được phê duyệt theo quyết định trên, hộ cụ L còn được Công ty X hỗ trợ chi trả thêm số tiền là 490.240.000 đồng.
Toàn bộ số tiền do UBND thành phố V và Công ty X chi trả đối với thửa đất số 2-10, tổng là 798.000.000 đồng đã được trả trực tiếp cho cụ L tại nơi ở, cụ L điểm chỉ, ông C được ủy quyền nhận tiền, các bên không có khiếu nại, kiến nghị gì. Việc chi trả tiền bồi thường đối với thửa số 2-10 căn cứ theo quy định của pháp luật là hoàn toàn đúng đối tượng, chi trả cho chủ hộ đứng tên giấy CNQSDĐ là cụ L. Cụ L có trách nhiệm kê khai các thành viên còn lại của hộ gia đình và có trách nhiệm chi trả số tiền đã nhận cho các thành viên còn lại.
Sau đó, bà T, bà T1 đã khởi kiện Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố V yêu cầu trả cho mỗi bà số tiền 199.500.000 đồng với lý do thửa đất số 2-10 là thửa đất nông nghiệp cấp chung cho hộ gia đình, các bà trực tiếp sản xuất nông nghiệp, là người được giao sử dụng chung đối với thửa đất này nhưng không được chi trả tiền bồi thường mà Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố V lại trả toàn bộ cho cụ L và ông C là không đúng quy định pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của hai bà. Theo quan điểm của UBND thành phố V thì việc thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất thuộc thẩm quyền của UBND thành phố V, không phải của Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố V nên việc hai bà khởi kiện Trung tâm quỹ đất là không đúng. Hơn nữa, như đã trình bày, UBND thành phố V thu hồi cả thửa 2-10, bồi thường đúng quy định cho chủ hộ đứng tên trên giấy CNQSDĐ còn trách nhiệm chi trả cho từng thành viên thuộc về người nhận tiền. Tuy nhiên, sau đó hai bà đã rút đơn nên Tòa án đã đình chỉ việc giải quyết vụ án, UBND thành phố V cũng nhất trí, không có ý kiến gì.
Đến nay, các nguyên đơn khởi kiện ông C đề nghị chi trả số tiền cho mỗi người là 199.500.000 đồng tương ứng với phần họ được hưởng vì là thành viên hộ gia đình cùng sử dụng thửa đất 2-10. Quan điểm của UBND thành phố V đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại bản tự khai ngày 15 tháng 12 năm 2023, ông Đỗ Năng H là người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân xã T trình bày:
Về thời gian, trình tự, thủ tục thu hồi, bồi thường đất đối với thửa số 2-10 của hộ gia đình cụ L như lời trình bày của các đương sự và UBND thành phố V. Trong quá trình thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, UBND xã phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Do cụ L đã già, sức khỏe yếu nên có ủy quyền cho ông C thực hiện toàn bộ các thủ tục và nhận tiền, cụ L có điểm chỉ dưới sự chứng kiến của các cán bộ thuộc Trung tâm phát triển quỹ đất, UBND xã và trưởng khu dân cư số 10. Đối với việc khởi kiện của các nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 28 tháng 11 năm 2023, quá trình giải quyết vụ án, Công ty cổ phần X trình bày:
Công ty X là chủ đầu tư dự án Khu đô thị M. Thực hiện chủ trương thu hồi đất để thực hiện dự án này, UBND thành phố V đã tiến hành thu hồi, bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với thửa đất số 2-10 của hộ gia đình cụ L theo phương án đã được phê duyệt. Ngoài số tiền bồi thường chi trả theo quy định, Công ty X có hỗ trợ trả thêm số tiền 490.240.000 đồng cho hộ bà L đối với thửa đất số 2-10. Số tiền này được trả trực tiếp tại nhà ở của cụ L, cụ có điểm chỉ và ủy quyền cho con trai ở cùng nhà là ông C nhận thay. Đây là số tiền hỗ trợ, chi trả cho người đại diện đứng tên trên giấy CNQSDĐ nên việc tranh chấp của các thành viên trong hộ thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ khoản 29, 30 Điều 3, khoản 2 Điều 5, Điều 166 của Luật Đất đai 2013; Điều 102, 164, 166, 209, 212, 219 của Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Nguyễn Văn C phải trả cho bà Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị T1 mỗi người số tiền là 199.500.000đ (Một trăm chín mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng).
Ghi nhận sự tự nguyện của bà T, bà T1 về việc không yêu cầu ông C phải thanh toán tiền lãi của số tiền trên.
Kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật, nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn C.
Trả lại cho bà T, bà T1 mỗi người 4.987.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 5601 và 5602 ngày 23/10/2023 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Bản án còn tuyên về quyền thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 30 tháng 01 năm 2024, ông C có đơn kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm vì ông đã đưa tiền này cho ông Nguyễn Xuân C1, ông C1 đã giao cho bà Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị T1, mỗi người 40.000.000đồng, số tiền còn lại ông C1 đã giao cho ông quản lý để chăm nuôi mẹ già và ông đề nghị bà T, bà T1 phải bồi thường thiệt hại vì đã đi khởi kiện ảnh hưởng đến danh dự của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông C vẫn giữ nguyên kháng cáo và thay đổi lời khai cho rằng: Ngay sau khi ông nhận được tiền bồi thường, ông đưa toàn bộ số tiền này cho ông C1, sau khi ông C1 chia cho bà T và bà T1 mỗi người số tiền 40.000.000 đồng thì ông C1 đưa lại cho ông số tiền 718.000.000 đồng sau đó ông lại giao lại ngay số tiền này cho cụ L quản lý, ông không giữ số tiền này nên ông không đồng ý trả lại tiền theo yêu cầu khởi kiện của bà T và bà T1.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký phiên tòa. Tại phiên tòa, HĐXX, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự đối với phiên tòa phúc thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, đã được hỏi, đáp, tranh luận và phát biểu quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2026/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn C.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ về phần nội dung buộc ông C phải trả lại số tiền đã cầm cho bà T, bà T1.
Sửa bản án sơ thẩm buộc ông C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và không buộc ông C phải chịu lãi suất kể từ ngày xét xử sơ thẩm mà buộc ông C phải chịu lãi suất kể từ ngày người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do ông Nguyễn Văn C là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí dân sự phúc thẩm nên miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến trình bày của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn C làm trong thời hạn quy định của pháp luật, đơn hợp lệ được chấp nhận.
[2] Xét về nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Văn C đề nghị xem xét lại việc bản án sơ thẩm số 06/2024/DSST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã buộc ông phải thanh toán tiền cho bà T và bà T1, Hội đồng xét xử xét thấy:
2.1. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm; ông Nguyễn Văn C đều thừa nhận, chỉ có bốn người trong gia đình gồm có cụ L và ba người con cụ L là ông C1, bà T, bà T1 là đối tượng trong hộ gia đình được giao đối với thửa đất 2-10, phù hợp với kết quả xác minh của UBND xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ cung cấp, nên có đủ cơ sở để xác định bốn người trong gia đình ông C trước đây gồm cụ L, ông C1, bà T và bà T1, được giao thửa đất này trong đó ông C không thuộc đối tượng được giao. Khi thu hồi thửa đất 2-10, UBND thành phố V bồi thường số tiền 307.755.164 đồng và Công ty X hỗ trợ thêm số tiền là 490.240.000 đồng, tổng cộng làm tròn là 798.000.000 đồng. Trong khi đó, tài sản này không phân chia riêng từng phần mỗi người được bao nhiêu m², nên phải xác định tài sản chung để chia đều cho 4 người, mỗi người được nhận ¼ giá trị, tương ứng số tiền 199.500.000 đồng. Ông C không thuộc đối tượng được chia nhưng ông thừa nhận đã nhận thay, quản lý số tiền này. Vì vậy, khi người có quyền yêu cầu trả số tiền được phân chia theo phần thì ông C là người quản lý phải có nghĩa vụ trả lại số tiền này.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, ông C cho rằng: Sau khi ông nhận số tiền này, ông đã đưa toàn bộ số tiền này cho ông Nguyễn Xuân C1, sau đó giao ông C1 giao cho bà T, bà T1 mỗi người 40.000.000 đồng, phần còn lại giao toàn bộ số tiền 718.000.000 đồng cho ông quản lý để chi phí chăm sóc cho bà L. Mặc dù ông C1 có quan điểm trình bày phù hợp với lời trình bày của ông C, nhưng ông C, ông C1 cũng không có căn cứ nào khác chứng minh đã đưa số tiền 40.000.000 đồng cho bà T và đưa số tiền 40.000.000 đồng cho bà T1, trong khi không được bà T và bà T1 thừa nhận. Nên chỉ có cơ sở để xác định: Ông C đã nhận toàn bộ số tiền 798.000.000 đồng nhưng chưa chia khoản tiền nào cho bà T, bà T1. Vì vậy, nay bà T và bà T1 yêu cầu thì buộc ông C phải trả lại cho bà T, bà T1 số tiền chia theo phần được nhận là 199.500.000 đồng như bản án sơ thẩm đã quyết định là đúng pháp luật.
Ông C còn cho rằng: Số tiền ông quản lý ông sử dụng để chi chăm sóc cụ L hết số tiền này để từ chối nghĩa vụ trả cho bà T và bà T1, nhưng việc chăm sóc cho cụ L đó là nghĩa vụ chung của các con đối với cha, mẹ và ông C cũng không đưa ra chứng cứ để chứng minh đã chi phí những gì hết số tiền đó và ông C cũng không có phản tố đề nghị giải quyết trong vụ án nên không thể xem xét trong cùng vụ án được.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông C còn thay đổi lời khai cho rằng: Ngay sau khi ông nhận được số tiền 798.000.000 đồng, ông đã giao cho ông C1, ông C1 giao cho bà T 40.000.000 đồng, bà T1 40.000.000 đồng. Số tiền còn lại 718.000.000 đồng ông C1 lại giao lại cho ông nhưng ông không giữ mà tiếp tục giao lại cho cụ L quản lý ngay thời điểm năm 2022. Việc ông C thay đổi lời khai mâu thuẫn với lời khai trước đó ông thừa nhận ông quản lý số tiền này, ông đã sử dụng để chăm sóc cho cụ L hết số tiền này; tại bản tự khai ngày 13/12/2023 của cụ Nguyễn Thị L khai chính ông C là người viết hộ lời trình bày, cũng được ông thừa nhận cho rằng ông vẫn quản lý số tiền này. Như vậy, việc ông thay đổi lời khai tại phiên tòa chỉ nhằm mục đích để từ chối nghĩa vụ thanh toán số tiền của bà T và bà T1 được chia theo phần ông đang quản lý.
Từ những phân tích đã nêu trên thấy rằng: Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định buộc ông C phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà T và bà T1, mỗi người 199.500.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật nên phải bác kháng cáo của ông C, giữ nguyên quyết định về nghĩa vụ thanh toán của ông C đối với bà T, bà T1 như quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên.
Ông C còn kháng cáo cho rằng bà T, bà T1 phải bồi thường danh dự cho ông vì hai bà đi kiện ảnh hưởng đến danh dự của ông. Tuy nhiên, đề nghị của ông không đề nghị xem xét, giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
2.2. Tại phần quyết định bản án của Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên: “Ghi nhận sự tự nguyện của bà T, bà T1 về việc không yêu cầu ông C phải thanh toán tiền lãi của số tiền trên” là chưa chính xác vì: Tại đơn khởi kiện cũng như trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không đề nghị tính lãi, tại phần nội dung vụ án các bên không đề nghị tính lãi số tiền chậm trả; tại phần nhận định của Tòa án cũng không đề cập giải quyết lãi suất của số tiền bên có nghĩa vụ phải thực hiện, nhưng phần quyết định của bản án lại tuyên như đã nêu trên là chưa đúng hướng dẫn viết bản án tại mục 25, 26, mẫu số 52 kèm theo nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, cần rút kinh nghiệm.
2.3. Tại phần quyết định bản án sơ thẩm đã tuyên: “Kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật, nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015”.
Trong khi đó, số tiền ông C có nghĩa vụ thanh toán là khoản tiền phải trả cho người được thi hành án, không phải trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng, nhưng bản án sơ thẩm lại căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 của nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để tuyên lãi suất như đã nêu trên chưa chính xác. Cần phải căn cứ hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều 13 của nghị quyết số 01 ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, để tuyên lãi suất “Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” mới đúng, nên cần phải sửa lại phần tuyên lãi suất cho đúng quy định của pháp luật.
[3] Về án phí dân sự.
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đề nghị sửa phần án phí của bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông C phải nộp án phí dân sự sơ thẩm thấy rằng: Ông C, sinh năm 1958, đến khi xét xử sơ thẩm, ông C 66 tuổi, là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm phải giải thích, nếu ông C có nguyện vọng xin miễn án phí dân sự sơ thẩm thì phải hướng dẫn ông C viết đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm kèm theo các tài liệu, chứng cứ; sau đó mới xét miễn án phí cho ông C, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không hướng dẫn lại xét miễn án phí cho ông C là thiếu sót của Tòa án cần rút kinh nghiệm. Tuy nhiên, nội dung phần án phí không bị kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị; trong khi ông C thuộc trường hợp được xét miễn án phí. Vì vậy, cần giữ nguyên quyết định bản án dân sự sơ thẩm đã tuyên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông C.
3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của ông C không được chấp nhận phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, nhưng ông C là người cao tuổi, có đơn đề nghị miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông C.
[4] Về quan điểm việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa đề nghị giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm về nghĩa vụ thanh toán, sửa phần tuyên về lãi suất là có căn cứ nên được chấp nhận. Đối với đề nghị sửa án phí sơ thẩm theo hướng buộc ông C phải nộp án phí sơ thẩm, trong khi phần này không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không có căn cứ để chấp nhận.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn C.
Giữ nguyên quyết định Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ khoản 29, 30 Điều 3, khoản 2 Điều 5, Điều 166 của Luật Đất đai 2013; Điều 102, 164, 166, 209, 212, 219 của Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị T1.
Buộc ông Nguyễn Văn C phải trả cho bà Nguyễn Thị T và Nguyễn Thị T1 mỗi người số tiền được bồi thường, hỗ trợ được chia theo phần đối với thửa đất số 2-10, tờ bản đồ số 13, diện tích 798m², địa chỉ tại khu Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (được UBND thành phố V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ cụ Nguyễn Thị L ngày 08 tháng 4 năm 1999) bị thu hồi. Ông C phải trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền 199.500.000đ (Một trăm chín mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng) và trả cho bà Nguyễn Thị T1 số tiền 199.500.000đ (Một trăm chín mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng).
Sửa phần tuyên lãi suất bản án sơ thẩm như sau: “Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn C.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị T1 mỗi người được nhận số tiền 4.987.000đ (Bốn triệu chín trăm tám mươi bẩy nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 5601 và số 5602 ngày 23/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn C.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".
Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết kháng cáo và kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hán Hưởng |
Bản án số 37/2024/DS-PT ngày 06/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp kiện đòi tài sản
- Số bản án: 37/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo