|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06-6-2024 V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Điền.
Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thạch Ươn – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tính – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 387/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị L, sinh năm: 1992 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Trần Quốc D, sinh năm: 1993 (Vắng mặt không lý do).
Cùng địa chỉ: ấp N, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 18-4-2023, biên bản lấy lời khai ngày 06-11-2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Thạch Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Trần Quốc D đi đến hôn nhân do tự quen biết nhau, cha mẹ hai bên đều chấp nhận, làm lễ cưới năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B ngày 20-11-2014. Không có nữ trang ngày cưới. Sau ngày cưới, vợ chồng sống chung gia đình bên chồng. Thời gian chung sống hạnh phúc được đến năm 2019 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, thường hay cự cải, không còn quan tâm, tin tưởng lẫn nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, nên chị đã đem theo con chung về ở bên nhà cha mẹ ruột và sống ly thân với anh Danh t đó đến nay đã hơn 04 năm. Chị đã từng nộp đơn ly hôn với anh D ra Tòa án một lần vào tháng 3 năm 2023, sau đó vì thương con chị đã rút lại đơn để tạo thêm cơ hội hàn gắn hôn nhân với anh D, nhưng việc hàn gắn không có kết quả, chị và anh D mỗi người một nơi, mỗi người một công việc, mạnh ai nấy đi, nên khó trở về chung sống lại với nhau. Cha mẹ hai bên gia đình cũng có động viên nhưng chị và anh D không thể hàn gắn được nữa. Nên nay chị cương quyết xin được ly hôn với anh Trần Quốc D.
Về con chung: Chị và anh Trần Quốc D có 01 con chung là Trần Thị Yến N, sinh ngày 14-10-2011, sống chung với chị từ nhỏ lớn. Khi ly hôn, chị xin được quyền nuôi con, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung phải thu, phải trả: Không có, nên không yêu cầu giải quyết.
Ngoài những giấy tờ đã nộp có trong hồ sơ vụ án, chị xác định không nộp thêm chứng cứ mới để Tòa án xem xét, chị là người dân tộc Khmer cư trú ở ấp N, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh là thôn đặc biệt khó khăn, ngoài ra không thuộc diện chính sách nào khác.
Đối với bị đơn anh Trần Quốc D: Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã nhiều lần triệu tập, thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng anh D đều vắng mặt không lý do, nên Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Qua xác minh với chính quyền địa phương ấp N B, xã B và mẹ ruột của anh D là bà Sơn Thị C cho biết: Từ trước đến nay anh D có đăng ký thường trú tại địa phương, sinh sống cùng nhà với bà C, sau khi anh D cưới vợ là chị Thạch Thị L thì cũng ở chung nhà với bà C; Đến khi vợ chồng chị L, anh D phát sinh mâu thuẫn thì chị L mới đem theo con chung về ở bên nhà cha mẹ ruột. Hiện tại anh D đi làm thuê ở xa nhưng vẫn đi đi về về tại địa phương. Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh D đến tham gia phiên tòa xét xử vụ án lần thứ hai, nhưng anh D tiếp tục vắng mặt, không có lời khai, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét.
Tại Đơn tự khai và yêu cầu giải quyết - xét xử vắng mặt ngày 06-11-2023, con chung là cháu Trần Thị Yến N trình bày: Cha mẹ cháu là Thạch Thị L và Trần Quốc D. Hiện cháu đang sống chung với mẹ. Khi cha mẹ ly hôn, thì nguyện vọng của cháu là muốn được tiếp tục sống chung với mẹ, vì sống với mẹ đã quen.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị L và bị đơn anh D đều vắng mặt, nên không có lời trình bày thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa thụ lý đến thời điểm này Thẩm phán đã chấp hành đúng theo Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát, cấp và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng về thời gian ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử chưa đảm bảo theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự về thời hạn chuẩn bị xét xử. Phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử thực hiện đầy đủ và đúng theo trình tự pháp luật quy định của phiên tòa sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự; Đối với bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Vị đề nghị áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điêu 19, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị L: Cho chị L được ly hôn với anh Trần Quốc D; Về con chung là Trần Thị Yến N, sinh ngày 14-10-2011 giao cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của con chung là muốn sống với mẹ; Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị L chưa đặt ra yêu cầu, nên không xem xét; Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này; Về tài sản chung và nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết. Về án phí sơ thẩm: Do chị L là người dân tộc Khmer cư trú ở ấp N, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh là thôn đặc biệt khó khăn, nên được miễn án phí hôn nhân sơ thẩm. Ngoài ra, V đề nghị các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Càng Long nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Thạch Thị L là nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Anh Trần Quốc D là bị đơn, đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến tham dự các phiên làm việc tại Tòa, nhưng anh D đều vắng mặt không lý do; Ngày 29-5-2024, Tòa án triệu tập hợp lệ anh D đến tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhưng anh D vắng mặt không lý do; Ngày 06-6-2024, Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đối với anh D đến tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhưng anh D vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về hôn nhân: Xét thấy chị Thạch Thị L và anh Trần Quốc D xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B vào ngày 20-11-2014, nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian dài chung sống hạnh phúc, đến năm 2019, giữa anh chị phát sinh mâu thuẫn. Chị L cho rằng nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường hay cự cải, không còn quan tâm, tin tưởng lẫn nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, nên vợ chồng đã tự sống ly thân nhau hơn 04 năm nay mà không hàn gắn lại được. Do tình cảm vợ chồng không còn, nên chị L cương quyết xin được ly hôn với anh D. Đối với anh Trần Quốc D, qua xác minh của Tòa án với chính quyền địa phương ấp Nguyệt Lãng B, xã B và với bà Sơn Thị C là mẹ ruột của anh D cho biết thì hiện nay mặc dù anh D đi làm thuê ở xa, nhưng vẫn thường xuyên trở về địa phương chung nhà với mẹ ruột; Bà C có nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án để chuyển cho anh D như thông báo về việc thụ lý vụ án và các thông báo Tòa án mời làm việc, xác nhận anh D có biết việc chị L khởi kiện ly hôn với anh D, nhưng do anh D bận đi làm, nên không đến Tòa án được, cũng không cung cấp lời khai, không cung cấp chứng cứ gì để chứng minh tình trạng hôn nhân giữa anh D với chị L.
[3] Xét thấy gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng để hình thành và giáo dục nhân cách con người, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Do đó, vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững. Chị L, anh D xác lập hôn nhân từ năm 2014, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian dài. Quá trình sống chung, có những lúc chưa thống nhất về quan điểm cuộc sống, về cách ứng xử giao tiếp với nhau, đáng lẽ ra anh chị phải biết tự điều chỉnh hành vi bản thân, xử sự có lý, có tình, cùng góp ý, tôn trọng lẫn nhau để tìm cách giải quyết mọi vấn đề phát sinh trong cuộc sống hôn nhân một cách tốt đẹp nhất, để bảo vệ hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, khi bất hòa xảy ra, vợ, chồng không kiềm chế được hành vi và cách cư xử của bản thân, dẫn đến cự cải, tự ý sống ly thân và bỏ mặc nhau, làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt và dần mất đi.
[4] Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, ...”. Nhưng chị L, anh D đã không thực hiện được các nghĩa vụ này với nhau.
[5] Theo các Biên bản xác minh cùng ngày 14-5-2024 của Tòa án với chính quyền địa phương và người thân của chị L, anh D tại ấp N, xã B cho biết: Về mâu thuẫn cụ thể trong cuộc sống chung giữa chị L, anh D thì mọi người không nắm rõ, nhưng biết hai vợ chồng họ đã sống ly thân nhau hơn 03 năm nay, người thân hai bên có động viên nhưng họ vẫn không hàn gắn hôn nhân lại được. Quá trình sinh sống tại ấp N, chị L, anh D không tranh chấp tài sản chung với nhau hoặc với ai, không tranh chấp hay khiếu nại gì về nợ chung với ai. Việc chị L xin ly hôn với anh D, đề nghị Tòa xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
[6] Tòa án đã tiến hành mời hòa giải đoàn tụ vào các ngày 06-11-2023, 22-11-2023 để chị L, anh D có cơ hội gặp nhau trao đổi về tình trạng hôn nhân giữa hai người, nhưng anh D đều vắng mặt không lý do. Thể hiện anh D không mong muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị L.
[7] Vào năm 2023, chị L có đơn khởi kiện ly hôn với anh D, được Tòa án thụ lý vụ án hôn nhân và gia đình ngày 12-01-2023. Quá trình giải quyết, Tòa án động viên hòa giải đoàn tụ, chị L tự nguyện rút lại đơn khởi kiện để tạo thêm cơ hội hàn gắn quan hệ hôn nhân với anh D và được Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án ngày 01-3-2023. Tuy nhiên, thời gian từ tháng 3 năm 2023 cho đến nay đã hơn một năm, nhưng việc hàn gắn giữa chị L với anh D vẫn không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng vẫn tiếp diễn, dẫn đến việc chị L tiếp tục khởi kiện ra Tòa yêu cầu ly hôn với anh D.
[8] Từ những nhận định trên, thấy rằng đời sống chung của vợ chồng chị L, anh D đang trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Việc chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn và cương quyết ly hôn với anh D là có cơ sở, phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu, cho chị L được ly hôn với anh D.
[9] Về con chung: Chị Thạch Thị L và anh Trần Quốc D có một người con chung tên Trần Thị Yến N, sinh ngày 14-10-2011, hiện đang sống chung với chị L. Tại Đơn tự khai và yêu cầu giải quyết - xét xử vắng mặt ngày 06-11-2023, cháu N nêu nguyện vọng muốn được sống chung với mẹ trường hợp khi giải quyết cha mẹ ly hôn. Và xét thực tế thời gian chị L, anh D sống ly thân cho đến nay cháu N vẫn được chị L chăm sóc tốt, đảm bảo sức khỏe, việc học hành của cháu. Do đó, cần xử cho chị L được quyền nuôi con là phù hợp quy định pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của con chung. Vì chị L chưa đặt ra yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[10] Về tài sản chung: Tòa án đã giải thích theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đối với chị Thạch Thị L xác định không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết, đối với anh Trần Quốc D không có lời khai, không cung cấp chứng cứ liên quan, không tranh chấp, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
[11] Về nợ chung phải thu, phải trả: Chị Thạch Thị L xác định quá trình chung sống chị và anh Trần Quốc D không nợ ai, cũng không ai nợ chị và anh D, không yêu cầu giải quyết. Đối với anh D đều vắng mặt không lý do tại các phiên mời làm việc tại Tòa, nên không có lời trình bày của anh về xác định nợ chung của vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử chưa có cơ sở xem xét.
[12] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Thạch Thị L được miễn nộp tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, do chị có đơn xin miễn án phí vì là dân tộc Khmer cư trú ở ấp N, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh là thôn đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 612/QĐ-UBDT ngày 16-9-2021 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban dân tộc về phê duyệt danh sách các thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025. Nên hoàn trả lại cho chị L 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long.
[13] Xét quan điểm của Vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 70, 144, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 19, 51, 53, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 12, 14, 15, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Thạch Thị L được ly hôn với anh Trần Quốc D.
- Về con chung: Giao con chung tên Trần Thị Yến N, sinh ngày 14-10-2011 cho chị Thạch Thị L tiếp tục nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của con chung là muốn được sống chung với mẹ.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Thạch Thị L chưa đặt ra yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Thạch Thị L và anh Trần Quốc D không tranh chấp, nên Hội đồng xét xử chưa xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Thạch Thị L được miễn nộp tiền án phí hôn nhân sơ thẩm. Nên hoàn trả lại cho chị L 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0017881 ngày 19-10-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Thảo |
Bản án số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 37/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị L. 1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Thạch Thị L được ly hôn với anh Trần Quốc D. 2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Thị Yến N, sinh ngày 14-10-2011 cho chị Thạch Thị L tiếp tục nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của con chung là muốn được sống chung với mẹ. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Thạch Thị L chưa đặt ra yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét....
