|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2024/HS-PT Ngày 05-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nhân
Các Thẩm phán: Ông Bùi Thanh Thảo
Ông Phạm Tiến Hiệp
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Minh Toản-Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Chuyên-Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 47/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HSST ngày 23-4-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Ngọc Q, sinh ngày 01-10-1996 tại Bình Thuận
Nơi cư trú tại địa chỉ: Tổ E, khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc S và bà Nguyễn Thị Mộng Đ; có vợ là bà Nguyễn Thị Mỹ L và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến ngày 07/02/2024 được tại ngoại “có mặt”
Bị hại: Bà Trần Vũ Mai A, sinh năm 1989 “vắng mặt”
Nơi cư trú: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 17/10/2023, bị cáo Nguyễn Ngọc Q điều khiển xe mô tô Exciter màu xanh trắng biển kiểm soát số 93F1- 3333 đến nhà bị hại bà Trần Vũ Mai A ở khu phố T, phường T, thành phố Đ để yêu cầu bị hại trả số tiền 17.000.000 đồng mà bị hại còn nợ bị cáo trước đó nhưng không có bị hại ở nhà nên bị cáo điều khiển xe mô tô đi về. Khi biết bị cáo đến nhà đòi nợ, khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày bị hại điều khiển xe mô tô hiệu Vision màu đỏ (không rõ biển số) đến nhà bị cáo tại khu phố T, phường T, thành phố Đ để trả nợ cho bị cáo, đến nơi thì gặp bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L là vợ của bị cáo ở nhà nên bị hại ra về. Vừa ra khỏi nhà được 50 mét thì gặp bị cáo Q điều khiển xe chở theo một người đàn ông tên T (không rõ lai lịch) đang đi về nhà bị cáo. Bị hại quay xe lại đi cùng bị cáo vào nhà để trả tiền cho bị cáo. Khi vào nhà bị hại đưa cho bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L số tiền 9.800.000 đồng, bị cáo Q buộc bị hại trả thêm số tiền 7.000.000 đồng nhưng bị hại không đồng ý thì bị bị cáo Q dùng tay đánh vào mặt nhiều cái (nhưng không gây thương tích), bị cáo Q yêu cầu bị hại gọi điện cho bà Nguyễn Thị T1 là mẹ ruột của bị hại đem tiền đến trả đủ mới cho bị hại về. Đến khoảng 14 gờ 30 phút, do không liên lạc được với người nhà nên bị hại xin bị cáo Q cho về nhà sau đó trả thêm số tiền 7.000.000 đồng nhưng bị cáo không đồng ý và tiếp tục dùng tay đánh vào mặt bị hại và lấy con dao cán gỗ, lưỡi dài khoảng 30cm cầm trên tay đe dọa yêu cầu bị hại trả đủ số tiền mới được về. Thấy bị cáo Q cầm dao nên T và bị cáo L can ngăn. Bị hại nhờ bị cáo Q liên lạc tìm người để cầm xe mô tô trả tiền cho bị cáo. Khi thấy bị hại cần cầm xe nên T nói để T liên hệ giúp người cầm, rồi báo giá cầm 4.000.000 đồng nhưng bị hại không đồng ý. Các bị cáo Q, L vẫn tiếp tục chửi bới, đe doạ buộc bị hại trả số tiền còn lại mới cho về, bị cáo L đi ra ngoài khóa cổng ra vào không cho bị hại ra khỏi nhà. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày không thấy bị hại về nhà nên bà Nguyễn Thị T1 đến Công an thành phố Đ trình báo sự việc. Khi lực lượng Công an đến thì bị cáo L mới mở cổng để bị hại ra ngoài .
Tại Bản án hình sự sơ thẩm 56/2024/HS-ST ngày 23-4-2024 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã quyết định:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Q phạm tội giữ người trái pháp luật.
- Căn cứ khoản 1 Điều 157; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Q 01 năm tù; thời hạn tù kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án được trừ đi thời hạn tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến ngày 07/02/2024.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 04 tháng 5 năm 2024, bị cáo Nguyễn Ngọc Q kháng cáo yêu cầu được hưởng án treo.
2
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm thể hiện như sau: Đề nghị chấp nhận kháng cáo yêu cầu được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Ngọc Q, sửa một phần Bản sơ thẩm về hình phạt theo hướng cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị cáo Nguyễn Ngọc Q đã hoàn toàn thừa nhận việc phạm tội và hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã xác định. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án nên có đầy đủ căn cứ để xác định bị cáo phạm tội giữ người trái pháp luật theo khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự.
[2] Xét kháng cáo về yêu cầu được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Ngọc Q, thấy rằng: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được bị hại bà Trần Vũ Mai A làm đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đã được Toà án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tài liệu chứng minh bị cáo được bị hại bà Trần Vũ Mai A có làm đơn yêu cầu cho bị cáo được hưởng án treo, bị hại cũng có một phần lỗi không trả hết tiền còn nợ cho bị cáo, hơn nữa, bị cáo có nhân thân tốt, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, các con còn nhỏ, là lao động chính của gia đình, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đ xác nhận, có khả năng tự cải tạo và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là có đầy đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định của pháp luật và phù hợp với chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước mà cũng không gây nguy hiểm cho xã hội và không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, cần phải chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, sửa một phần Bản án sơ thẩm về hình phạt theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[3] Ý kiến của Kiểm sát viên-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đề nghị nêu trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[4] Án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc Q được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu.
[5] Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
3
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015,
Chấp nhận kháng cáo yêu cầu được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Ngọc Q,
Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HSST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước về hình phạt.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Q phạm tội giữ người trái pháp luật.
- Căn cứ khoản 1 Điều 157; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 50, 58, 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Q 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 02 năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 05/8/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Ngọc Q cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước để giám sát, giáo dục trong thời gian thư thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Ngọc Q không phải nộp.
- Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
4 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Văn Nhân |
Bản án số 37/2024/HS-PT ngày 05/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 37/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kháng cáo
