TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST Ngày 04 - 6 - 2024 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Sơn và bà Võ Thị Thanh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 44/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16/5/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ A, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang, (có mặt).
- - Bị đơn: Ông Trần Thế V, sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ A, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị B trình bày:
Bà B và ông V do mai mối nên đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố C, giấy chứng nhận kết hôn số 25, cấp ngày 01/04/2004. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, nguyên nhân do ông V thường xuyên uống rượu, say sỉn đánh đập vợ con, không chăm lo gia đình, vợ chồng đã không còn sống chung từ năm 2021 cho đến nay. Tình cảm không còn nên bà B yêu cầu được ly hôn với ông V. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 01 con chung tên Trần Thị Mỹ H, sinh ngày 31/04/2001 (đã trưởng thành). Về tài sản chung: tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không có.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông V nhưng ông V không cung cấp lời khai và không đến Tòa án để tham gia hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa,
- - Nguyên đơn bà B vẫn giữ yêu cầu khởi kiện như đã trình bày trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.
- - Phát biểu của Kiểm sát viên: Tòa án tiến hành hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông V nhiều lần vắng mặt không lý do, điều đó thể hiện ông không có thiện chí hàn gắn tình cảm và vợ chồng có mâu thuẫn như lời trình bày của bà B. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn nên bà B yêu cầu ly hôn với ông V là có căn cứ theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Con chung tên Trần Thị Mỹ H (sinh năm 2001) đã trưởng thành và có khả năng lao động, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị B khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Trần Thế V. Bị đơn ông V có nơi cư trú thuộc khu vực ấp M, xã V, thành phố C. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà B và ông V kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố C, Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 25, cấp ngày 01/4/2004 nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Theo lời khai của bà B, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do ông V thường xuyên uống rượu, say sỉn đánh đập vợ con, không chăm lo gia đình, vợ chồng đã không còn sống chung từ năm 2021 cho đến nay.
Theo kết quả xác minh tại Văn phòng ấp M, xã V cung cấp: ông V có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ A, ấp M, xã V, thành phố C và vẫn còn sinh sống tại địa chỉ nêu trên.
Xét thấy, giữa bà B và ông V phát sinh mâu thuẫn là có thật, thời gian xa cách đã lâu nhưng vợ chồng vẫn không thể hàn gắn được tình cảm, đã không còn quan tâm, chăm sóc nhau, mỗi người điều có cuộc sống riêng. Ông V biết việc bà B khởi kiện ly hôn nhưng không cung cấp lời khai, không đến Tòa án để hòa giải, cho thấy không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Từ đó cho thấy hôn nhân giữa bà B và ông V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, có kéo dài quan hệ hôn nhân thì mục đích hôn nhân cũng không đạt. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B về việc ly hôn với ông V theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là Trần Thị Mỹ H, sinh ngày 31/04/2001, đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: tài sản chung tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết; về nợ chung: Bà B khai không có.
[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật. Ông V không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào các Điều 147, Điều 227, Điều 228, và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích .
- Về quan hệ hôn nhân:Bà Nguyễn Thị B được ly hôn với ông Trần Thế V.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003208 ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; bà B đã nộp đủ án phí.
Ông Trần Thế V không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Nguyễn Thị B có quyền kháng cáo Tòa án nhân dân tỉnh An Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của ông Trần Thế V là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Đại Nam |
Bản án số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Số bản án: 37/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
