|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 37/2024/DS-ST
Ngày: 04 - 5 - 2024
Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thiện
Ông Nguyễn Thanh Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hải Lĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 314/2023/TLST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2023, về “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; địa chỉ: 2, N, phường V, quận C, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp Luật: Ông Nguyễn Đức Thạch D; chức vụ: Tổng giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lương Trọng T; chức vụ: Trưởng phòng giao dịch Đ, tỉnh Bình Thuận; Địa chỉ: Số E, đường Đ, thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Người được ủy quyền lại: Ông Huỳnh Quốc K, sinh năm 1992; nơi cư trú: Số nhà C, khu đô thị P, khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1991; Nơi thường trú: Đường M, tổ A, thôn C, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn, người đại diện trình bày:
Ngày 26/8/2022 Ngân hàng TMCP S đã ký hợp giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (sau đây gọi tắt là hợp đồng) với ông Nguyễn Văn T1, với các nội dung như sau: Loại thẻ JCB Jspeedy Cre C; hạn mức tín dụng 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng); lãi suất áp dụng: 32%/năm; ngày chốt sao kê ngày 15 hàng tháng. Trong quá trình sử dụng thẻ ông T1 đã không thanh toán đúng hạn như đã cam kết. Tính đến ngày 08/11/2023 ông T1 còn nợ Ngân hàng TMCP S số tiền 35.283.482 đồng. Trong đó nợ gốc là 34.195.743 đồng, nợ phí lãi là 1.087.739 đồng. Mặc dù Ngân hàng TMCP S đã nhiều lần thông báo, nhắc nợ và làm việc trực tiếp nhưng ông T1 không có thiện chí trả nợ. Nên Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu ông T1 phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 35.283.482 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 09/11/2023 cho đến khi trả dứt nợ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Tại phiên tòa đại diện Ngân hàng TMCP S yêu cầu ông Nguyễn Văn T1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ, tiền nợ lãi quá hạn tính đến ngày 03/5/2024 là 43.701.636 đồng (Bốn mươi ba triệu bảy trăm lẻ một ngàn sáu trăm ba mươi sáu đồng). Trong đó, nợ gốc là 34.195.743 đồng (Ba mươi tư triệu một trăm chín mươi lăm ngàn bảy trăm bốn mươi ba đồng), tiền lãi quá hạn 9.505.893 đồng (Chín triệu năm trăm lẻ năm ngàn tám trăm chín mươi ba đồng) và tiếp tục trả lãi quá hạn cho đến khi trả hết số tiền nợ.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T1
Mặc dù đã được Tòa án thông báo hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên tòa, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng không có đơn khởi kiện phản tố, cũng không có ý kiến, tài liệu chứng cứ gì giao nộp cho Tòa án, cũng không tham gia làm việc và tham gia phiên tòa.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
+ Việc chấp hành pháp luật của các đương sự, người đại diện trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, người đại diện đã chấp hành đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự.
- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn chấp nhận một phần, đề nghị Hội đồng xử buộc ông Nguyễn Văn T1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ gốc và lãi theo thoả thuận đến ngày 03/5/2024 và tiếp tục trả lãi cho đến khi trả hết nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên Toà, trên cơ sở ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 hiện thường trú tại huyện Đ nên khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Theo đơn khởi kiện, chứng cứ do các đương sự, người đại diện cung cấp, quá trình làm việc tại Tòa án, cũng như tại phiên tòa xác định lại quan hệ tranh chấp cần giải quyết là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” là phù hợp.
[3] Trong giai đọan chuẩn bị xét xử mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các đương sự, người đại diện tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng bị đơn ông T1 vắng mặt không có lý do chính đáng, cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn ông T1 là phù hợp.
[4] Tại phiên tòa đại diện Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn T1 phải trả số tiền dư nợ thẻ tín dụng đến ngày 03/5/2024 là 43.701.636 đồng (Bốn mươi ba triệu bảy trăm lẻ một ngàn sáu trăm ba mươi sáu đồng). Trong đó, nợ gốc là 34.195.743 đồng (Ba mươi tư triệu một trăm chín mươi lăm ngàn bảy trăm bốn mươi ba đồng), tiền lãi quá hạn 9.505.893 đồng (Chín triệu năm trăm lẻ năm ngàn tám trăm chín mươi ba đồng).
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn cung cấp cho Tòa án chứng cứ gồm “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng”, “Thông báo nhắc nợ lần 1 số 76/2023/CV-PGDĐL, ngày 14/9/2023”, “Thông báo nhắc nợ lần 2 số 91/2023/CV-PGDĐL, ngày 04/10/2023”,“Thông báo nhắc nợ lần 3 số 119/2023/CV-PGDĐL, ngày 06/11/2023”,“Thông báo về việc chấm dứt hợp đồng (giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng) và thu hồi nợ, bảng kê chi tiết gốc, lãi thẻ tín dụng tính đến ngày 08/11/2023”; Cùng với việc nộp đơn khởi kiện nguyên đơn đã thực hiện việc sao gửi “Đơn khởi kiện”, “Thông báo nhắc nợ lần 3” cho ông T1.
Tại phiên toà đại diện nguyên đơn cung cấp chứng cứ “Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S”, “Quyết định số 2118/2022/QĐ-TTT, ngày 24/8/2022”,“ Bảng mô tả nội dung thay đổi”, “Biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ tín dụng S1”, “Biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ trả trước S1”,“Phụ lục: Cơ chế thu phí thường niên”, “Phụ lục: Chính sách phí thường niên đối với S1, công ty trực thuộc”, “Phụ lục: Lãi suất linh động cho thẻ tín dụng cá nhân”.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử Toà án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án số 314/2023/TB-TLVA, ngày 15/11/2023, Thông báo kết quả phiên họp số 95/2024/TB-KQPH, ngày 26/3/2024 nhưng ông T1 không phản đối những tài liệu do Ngân hàng TMCP S đưa ra, không có đơn khởi kiện phản tố, cũng không có ý kiến phản đối hay cung cấp tài liệu, chứng cứ gì liên quan đến yêu cầu khởi kiện, cũng như các tài liệu do nguyên đơn giao nộp. Nên những tài liệu, chứng cứ nguyên đơn giao nộp là sự thật không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.
[5] Qúa trình tố tụng ông T1 không phản đối về dư nợ thẻ mà đại diện nguyên đơn đưa ra, cũng không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng thể hiện sau khi được cấp thẻ tín dụng đã hết trả gốc, lãi, lãi quá hạn, phí đầy đủ cho nguyên đơn. Ông T1 đã từ bỏ nghĩa vụ chứng minh nên Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ theo quy định khoản tại 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.
[6] Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng giữa Ngân hàng TMCP S với ông Nguyễn Văn T1, với các nội dung: Loại thẻ JCB Jspeedy Cre C; hạn mức tín dụng 30.000.000 đồng; lãi suất áp dụng: 32%/năm; ngày chốt sao kê ngày 15 hàng tháng. Tại thời điểm ký Giấy đề nghị cấp thể tín dụng kiêm hợp đồng các bên chủ thể tham gia giao dịch có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện; Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, lãi suất thoả thuận phù hợp với luật các tổ chức tín dụng nên Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng có hiệu lực pháp luật.
[7] Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đại diện nguyên đơn tại phiên tòa có cơ sở xác định sau khi phát hành thẻ tín dụng và thanh toán, đối với thẻ tín dụng số 3674089812, khách hàng Nguyễn Văn T1, căn cước công dân [...] tính đến ngày 15/10/2023 số tiền ông T1 dư nợ Ngân hàng TMCP S là 34.195.743 đồng, bao gồm dư nợ gốc và lãi phí; tuy nhiên, ông T1 không thanh toán, nên chuyển qua nợ quá hạn. Đến ngày 03/5/2024 dư nợ ông T1 chưa thanh toán cho Ngân hàng TMCP S là 43.701.636 đồng (Bốn mươi ba triệu bảy trăm lẻ một ngàn sáu trăm ba mươi sáu đồng). Trong đó, nợ gốc là 34.195.743 đồng (Ba mươi tư triệu một trăm chín mươi lăm ngàn bảy trăm bốn mươi ba đồng), tiền lãi quá hạn 9.505.893 đồng (Chín triệu năm trăm lẻ năm ngàn tám trăm chín mươi ba đồng). Nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
[8] Ông Nguyễn Văn T1 có vợ là bà Phan Thị Thanh T2. Tuy nhiên, ông T1 bà T2 đã ly hôn vào năm 2018 theo Bản án số 73/2018/HNGĐ-ST, ngày 14/9/2018. Tại thời điểm các bên tham gia ký kết hợp đồng ngày 26/8/2022 ghi tình trạng hôn nhân của ông T1 đã ly hôn. Theo đại diện Ngân hàng TMCP S giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng là cấp cho cá nhân ông T1 và chỉ yêu cầu cá nhân ông T1 phải trả, nên Toà án không đưa bà T2 vào tham gia tố tụng và chỉ buộc cá nhân ông T1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền còn nợ trên là phù hợp.
[9] Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Nguyễn Văn T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng (Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng) cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
[10] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ được chấp nhận nên cần buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
[11] Các đương sự, người đại diện đều có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Các Điều 91, 92, 147, 203; khoản 2 Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Các Điều 91, 94, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Án lệ 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo quyết định số 689/QĐ-CA, ngày 17/10/2016 của Chánh án Toà án nhân dân Tối cao; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung;
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Buộc ông Nguyễn Văn T1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 43.701.636 đồng (Bốn mươi ba triệu bảy trăm lẻ một ngàn sáu trăm ba mươi sáu đồng). Trong đó, nợ gốc là 34.195.743 đồng (Ba mươi tư triệu một trăm chín mươi lăm ngàn bảy trăm bốn mươi ba đồng), tiền lãi quá hạn là 9.505.893 đồng (Chín triệu năm trăm lẻ năm ngàn tám trăm chín mươi ba đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Nguyễn Văn T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng (Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng) cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
2. Về án phí: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 882.000 đồng (Tám trăm tám mươi hai ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017733, ngày 15/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
Ông Nguyễn Văn T1 phải chịu 2.185.081 đồng (Hai triệu một trăm tám mươi lăm ngàn không trăm tám mươi mốt đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự, người đại diện của đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
4. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Trường |
Bản án số 37/2024/DS-ST ngày 04/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 37/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Saccombank-Nguyễn Văn Trường
