Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày: 03/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Tâm và ông Trần Gia Phượng

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị H;

Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 29/10/1983 tại: Thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu A, xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ đảng, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Công Q, sinh năm 1957 và bà: Hoàng Thị T, sinh năm 1960; Chồng: Nguyễn Xuân Q1, sinh năm 1978; Con: Có 04 con (lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2016); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; Hiện nay đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/01/2024; Bị cáo đang tại ngoại tại địa phương (có mặt).

Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Xuân Q1, sinh năm 1978 (có mặt)

    Nơi cư trú: Khu A, xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

  2. Bà Đinh Thị Kim T1 - Giám đốc (có mặt)

    Địa chỉ nơi công tác: Phòng G, Chi nhánh L, Ngân hàng N1.

  3. Ông Tạ Minh C - Phó chủ tịch (vắng mặt)

    Địa chỉ nơi công tác: UBND xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

  4. Ông Bùi Ngọc Q2 - Công chức tư pháp (vắng mặt)

    Địa chỉ nơi công tác: UBND xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị H, sinh năm 1983 và chồng là anh Nguyễn Xuân Q1, sinh năm 1978 đều có địa chỉ tại khu A, xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ đang sử dụng thửa đất số 6, tờ bản đồ số 115, diện tích 1183m², do Ủy ban nhân dân xã S quản lý, không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Thửa đất này vợ chồng Nguyễn Thị H nhận thuê khoán lại của ông Bùi Duy T2 và bà Bùi Thị N, ở khu A, xã S từ năm 2011 đến nay, không ký lại hợp đồng thuê khoán với Ủy ban nhân dân xã S.

Tháng 10 năm 2023, Nguyễn Thị H có nhu cầu vay vốn ngân hàng để lấy vốn kinh doanh, trả nợ nhưng không có tài sản thế chấp nên nảy sinh ý định làm GCNQSDĐ giả đối với thửa đất số 6, tờ bản đồ số 115 rồi sử dụng để thế chấp vay vốn tại ngân hàng.

Ngày 15/10/2023, H vào mạng xã hội Facebook tìm kiếm người làm giấy tờ giả thì thấy một tài khoản (H không nhớ tên tài khoản) có đăng nội dung làm sổ đỏ, bằng cấp, giấy phép lái xe,... nên H đã liên hệ với tài khoản này và được người dùng tài khoản này chỉ dẫn để kết nối mạng xã hội Zalo với nhau (H không nhớ tên tài khoản zalo). Quá trình liên hệ qua Z, H đã cung cấp thông tin về thửa đất, thông tin cá nhân của H và anh Q1 để người này làm GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả. Hai bên bàn bạc, thỏa thuận về giá cả là 18.000.000 đồng, khi nhận hàng sẽ thanh toán. Đến ngày 25/10/2023, bộ phận giao hàng dịch vụ thu hộ của một đơn vị, H không biết tên đã liên hệ với H, sau đó H nhận được một bưu kiện, bên trong có 01 GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả, với các thông tin người sử dụng đất là bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Xuân Q1 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 20/10/2023, số vào sổ cấp GCN: CH02748, thửa đất số 281, tờ bản đồ số 19, địa chỉ tại khu A, xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ, diện tích 360m², mục đích sử dụng là đất ở tại nông thôn. H đã trả cho người giao hàng số tiền 18.000.000 đồng. Sau đó, người bán GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả cho H đã xóa kết bạn với H, H cũng xoá các tin nhắn trao đổi với người này. Quá trình mua GCNQSDĐ trên mạng xã hội, H không nói cho anh Q1 biết.

Ngày 05/12/2023, Nguyễn Thị H mang 01 bản photo GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả nêu trên, một mình đi đến Phòng G, Chi nhánh L, Ngân hàng N1 (Sau đây gọi tắt là Phòng G, Ngân hàng A), để đăng ký làm thủ tục thế chấp để vay vốn. H nói với nhân viên ngân hàng Giấy chứng nhận này của gia đình H. Đến ngày 07/12/2023, H bảo anh Q1 cùng đến Phòng G, Ngân hàng A để làm thủ tục vay vốn Ngân hàng. Tại đây, H xuất trình bản gốc GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả và thiết lập Hợp đồng thế chấp bất động sản; sau đó cùng cán bộ Ngân hàng đến Ủy ban nhân dân xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ và được ông Tạ Minh C - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã S và ông Bùi Ngọc Q2 - Công chức tư pháp xã S chứng thực hợp đồng. Cùng ngày, Phòng G, Ngân hàng A gửi hồ sơ thế chấp cùng GCNQSDĐ do H cung cấp đến Văn phòng Đăng ký đất đai và Phát triển quỹ đất huyện L để xác minh làm thủ tục đăng ký thế chất bất động sản.

Văn phòng đăng ký đất đai và phát triển quỹ đất huyện L đã xác minh, phát hiện thửa đất số 281, tờ bản đồ số 19 thể hiện trong GCNQSDĐ không đúng với thực tế. Hiện nay thửa đất trên là loại đất nông nghiệp, diện tích 37m², tại địa giới khu A, xã S, huyện L; có chủ sử dụng là ông Phạm Quang K, sinh năm 1968, ở khu B, xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Mặt khác, hình dấu tròn màu đỏ trong GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có ghi “ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN HÒA, TỈNH PHÚ YÊN” nhưng chữ ký thì thể hiện chữ ký của ông Dương Hoàng P - Phó Chủ tịch UBND huyện L. Ngày 08/12/2023, Văn phòng Đ và phát triển quỹ đất huyện L đã trình báo sự việc đến Cơ quan CSĐT Công an huyện L.

Ngày 08/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện L làm việc về nội dung trình báo nêu trên tại Văn phòng đăng ký đất đai và phát triển quỹ đất huyện L. Tại đây, Nguyễn Thị H cũng có mặt để nhận kết quả hồ sơ thế chấp. Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã lập biên bản sự việc, tạm giữ 01 tờ giấy khổ A4, màu hồng, thể hiện nội dung là GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM407177 do UBND huyện L cấp ngày 20/10/2023; 01 hợp đồng thế chấp bất động sản của chị Nguyễn Thị H với Phòng G, Ngân hàng A và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 4, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 351088466682770, số IMEI 2: 351088466682788, gắn sim thuê bao số 0976481883.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị H tại khu A, xã S, thu giữ 01 Hợp đồng giao khoán, 01 Biên bản giao đất, 01 Trích sơ đồ đất làm kinh doanh ngày 01/9/2001 giữa UBND xã S với bà Bùi Thị N, ở khu A, xã S; 01 Giấy chuyển nhượng ngày 14/3/2011 giữa ông Bùi Duy T2 và bà Bùi Thị N với Nguyễn Thị HNguyễn Xuân Q1; các giấy tờ trên đều là bản phô tô.

Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã thu thập tại Văn phòng Đăng ký đất đai và Phát triển quỹ đất huyện L mẫu phôi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P cấp theo mẫu chung duy nhất từ năm 2014 đến nay; thu thập tại UBND huyện S, tỉnh Phú Yên mẫu hình dấu tròn đỏ của UBND huyện S; thu thập chữ ký của ông Dương Hoàng P - Phó Chủ tịch UBND huyện L.

Ngày 29/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện L trưng cầu Phòng K1 - Công an tỉnh P giám định tài liệu, chữ ký, con dấu đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thu giữ của Nguyễn Thị H. Tại bản kết luận giám định số 58 ngày 10/01/2024, Phòng K1 - Công an tỉnh P kết luận:

  • - Mẫu phôi GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thu giữ của Nguyễn Thị H với mẫu phôi GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thu thập tài Văn phòng Đăng ký đất đai và Phát triển quỹ đất huyện L không phải do cùng một phương pháp in ra.
  • - Mẫu hình dấu tròn màu đỏ trong GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thu giữ của Nguyễn Thị H với mẫu hình dấu tròn đỏ thu thập tài UBND huyện S, tỉnh Phú Yên không phải do cùng một con dấu đóng ra.
  • - Mẫu chữ ký thể hiện của ông Dương Hoàng P - Phó Chủ tịch UBND huyện L trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thu giữ của Nguyễn Thị H với mẫu chữ ký thu thập của ông Dương Hoàng P - Phó Chủ tịch UBND huyện L không phải do cùng một người ký ra.

Quá trình điều tra xác định, trước năm 2002 (thời điểm đo đạc lại đất đai tại xã S), thửa đất số 6, tờ bản đồ 15 (theo thông tin hiện tại) bao gồm cả thửa đất số 281, tờ bản đồ 19 (số tờ, số thửa cũ). Hiện nay, thửa đất số 6, tờ bản đồ 15 do Ủy ban nhân dân xã S quản lý; giao khoán cho ông Bùi Duy T2 và bà Bùi Thị N; người đang sử dụng thực tế là vợ chồng Nguyễn Thị H.

Tại Cơ quan CSĐT, Nguyễn Thị H khai nhận toàn bộ hành vi của bản thân như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKSLT ngày 12/4/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ đã truy tố Nguyễn Thị H về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Thị H từ 10 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thửa thách từ 20 đến 24 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị H cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Phạt bổ sung đối với bị cáo số tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng, bị cáo biết hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo khai và thừa nhận: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc sử dụng tài liệu, giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền chi tiêu và trả nợ. Do vậy H có nhu cầu vay tiền nên tháng 10/2023, Nguyễn Thị H đã có hành vi thuê người làm giả GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất với các thông tin Giấy số DM407177 mang tên Nguyễn Thị HNguyễn Xuân Q1 do UBND huyện L cấp ngày 20/10/2023, số vào sổ cấp GCN: CH02748 với giá 18.000.000 đồng. Ngày 05/12/2023 đến ngày 07/12/2023, Nguyễn Thị H sử dụng GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nêu trên để lập hợp đồng thế chấp bất động sản bảo đảm khoản vay vốn với Phòng G, Chi nhánh L, Ngân hàng N1. Khi thực hiện thủ tục tại Văn phòng Đ và phát triển quỹ đất huyện L, tỉnh Phú Thọ thì bị phát hiện GCNQSDĐ do Nguyễn Thị H cung cấp là tài liệu giả.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với biên bản sự việc, biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và lời khai tại cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của Nguyễn Thị H là hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm đã đủ yếu tố cấu thành tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức", được quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tội phạm và hình phạt quy định như sau:

Điều 341 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm...”

[3] Xét tính chất vụ án tuy có tính chất ít nghiêm trọng nhưng nó đã gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, sự hoạt động đúng đắn, bình thường và uy tín của cơ quan Nhà nước trong quản lý hành chính. Ngoài ra còn làm phức tạp tình hình trật tự an toàn công cộng, bởi bị cáo đưa vào sử dụng 01 GCNQSDĐ giả với mục đích vi phạm pháp luật. Về động cơ, mục đích, nguyên nhân của hành vi phạm tội: Do bản thân H là người có nhu cầu vay vốn làm ăn và trả nợ nên H đã có hành vi sử dụng giấy tờ giả. Động cơ của bị cáo là động cơ vụ lợi cá nhân. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm khắc để răn đe, giáo dục bị cáo; phòng chống phạm tội tương tự có thể xảy ra.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
  • Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường ít nghiêm trọng. Nên cần áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
  • Căn cứ vào hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy cần xử cho bị cáo mức án được cải tạo ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục là cần thiết.

[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 4 Điều 341 của BLHS quy định:

“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”

Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác minh, bị cáo cùng chồng là Nguyễn Xuân Q1 hiện đang kinh doanh đồ gỗ có giá trị hàng hóa khoảng 200.000.000 đồng và giá trị máy móc khoảng 100.000.000 đồng, trên thửa đất số 6, tờ bản đồ số 115, diện tích 1183m², do Ủy ban nhân dân xã S quản lý. Do vậy cần phạt tiền bổ sung đối với bị cáo để nộp ngân sách nhà nước.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 GCNQSDĐ giả là tài liệu chứng minh hành vi phạm tội và 01 phôi GCNQSDĐ thật là tài liệu đối chiếu, giám định nên cần tịch thu và bảo quản lưu trong hồ sơ vụ án.

[7] Đối với anh Nguyễn Xuân Q1, H chỉ nói với Q1, do có mối quan hệ quen biết nên đã nhờ làm được GCNQSDĐ với diện tích 360m². Anh Q1 không biết việc Nguyễn Thị H mua và sử dụng GCNQSDĐ giả để làm thủ tục vay tiền tại ngân hàng. Việc nhờ làm giấy tờ giả do một mình H thực hiện. Lời khai của anh Q1 phù hợp với lời khai của Nguyễn Thị H cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ. Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với anh Q1 là phù hợp.

[8] Đối với người làm giả và bán GCNQSDĐ giả cho Nguyễn Thị H, do H không biết tên tuổi, địa chỉ của người này, không còn thông tin liên lạc qua mạng xã hội nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh là phù hợp.

[9] Đối với ông Tạ Minh C - Phó Chủ tịch UBND xã S và ông Bùi Ngọc Q2 - Công chức tư pháp xã S đã chứng thực Hợp đồng thế chấp bất động sản giữa Ngân hàng A với Nguyễn Thị H và chồng là Nguyễn Xuân Q1 nhưng thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, xem xét, hoàn thiện hồ sơ theo quy định trước khi chứng thực. Tuy nhiên, ông C, ông Q2 không thực hiện hành vi vì lợi ích vật chất hay tinh thần nào khác, hành vi của ông C và ông Q2 chưa gây hậu quả nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

[10] Đối với ông Phạm Quang K, ông K không biết việc H sử dụng thông tin thửa đất của ông để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả. Bản thân H thừa nhận tự ý lấy số tờ, số thửa cũ của thửa đất số 6, tờ bản đồ 15 để làm GCNQSDĐ giả, không có căn cứ xem xét trách nhiệm là phù hợp.

[11] Đối với bà Đinh Thị Kim T1 - Giám đốc Phòng G, Ngân hàng A và ông Cao Kiên C1 - Phó Giám đốc Phòng G, Ngân hàng A là người phụ trách kiểm tra, thẩm định hồ sơ thế chấp, đã thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra các thông tin trên GCNQSDĐ. Tuy nhiên, bà T1 và ông C1 không thực hiện hành vi vì lợi ích vật chất hay tinh thần nào khác. Hành vi của bà T1, ông C1 chưa gây hậu quả nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

[12] Về hành vi đăng ký thế chấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả làm điều kiện để vay vốn của Nguyễn Thị H: Do các bên đang trong giai đoạn hoàn thiện các thủ tục về việc đăng ký thế chấp, chưa tiến hành các thủ tục để ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng, chưa có thiệt hại thực tế xảy ra đối với Ngân hàng. Do đó, hành vi của Nguyễn Thị H chưa đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là đúng quy định pháp luật.

Quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng của Cơ quan CSĐT - Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quan điểm của Kiểm sát viên về đề nghị áp dụng điều luật, về hình phạt và xử lý vật chứng là phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H, phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 12 (Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị H cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự;

Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 12/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ đối với bị cáo Nguyễn Thị H.

Áp dụng khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự. Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thị H số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước. Bị cáo phải nộp 1 lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tịch thu để bảo quản theo hồ sơ vụ án 01 phôi bìa GCNQSDĐ số bìa DM734450 (phôi bìa thật) và 01 GCNQSDĐ số bìa DM407177 cấp ngày 20/10/2023 (GCNQSDĐ giả).

Tịch thu bán sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 4, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 351088466682770, số IMEI 2: 351088466682788.

Tịch thu tiêu hủy sim thuê bao số 0976481883 gắn trong điện thoại Vsmart Joy 4.

Toàn bộ vật chứng hiện nay đang được tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện L và Chi cục thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Phú Thọ ngày 21/5/2024.Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện + tỉnh;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện L;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện;
  • - Chi cục THADS; THAHS;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS,VP (09b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 03/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự về tội "sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hằng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger